- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng đặt cọc — án dân sự — "Đỗ Thị P - Trương Thị K"
- Tòa quyết gì? C n cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân s n m 2015, sửa đổi bổ sung n m 2025; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ng ời đ i diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Chu V n V, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm, nh sau:
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 868/2025/DS-PT Ngày: 06-8-2025 V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Cao Minh Vỹ
Các Thẩm phán:
Bà Đào Thị Huệ
Ông Trịnh Hoàng Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguy n Thị Hà Vy – Th ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Thái Quốc Bảo - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 30 tháng 7 và 06 tháng 8 n m 2025, t i trụ s Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (cơ s 1), xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 28/2025/TLPT-DS ngày 12 tháng 02 n m 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân s sơ thẩm số 58/2024/DS-ST ngày 23 tháng 9 n m 2024 của Toà án nhân dân thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là Tòa án nhân dân khu v c X - Thành phố Hồ Chí Minh) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử số 110/2025/QĐ-PT ngày 26 tháng 4 n m 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 108/2025/QĐ-PT ngày 09 tháng 5 n m 2025, Thông báo về việc m l i phiên tòa số 133/2025/TB-TA ngày 19 tháng 6 n m 2025 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 10435/TB-TA ngày 07 tháng 7 n m 2025, giữa các đ ơng s :
- Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị P, sinh n m 1963 và ông Ph m V n N, sinh n m 1952.
Địa chỉ: Số B V, Ph ờng I, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là ph ờng T, Thành phố Hồ Chí Minh) (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Chu V n V, sinh n m 1970.
Địa chỉ liên hệ: Tổ F, thôn L, xã T, thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là ph ờng T, Thành phố Hồ Chí Minh), theo Giấy ủy quyền ngày 19-9-2023 (có mặt).
- Bị đơn: Bà Tr ơng Thị K, sinh n m 1971 và ông Lê Đình C, sinh n m 1971.
Địa chỉ: B tầng 14 Chung c P N, ph ờng T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là ph ờng R, Thành phố Hồ Chí Minh) (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền:
1. Ông Nguy n Thế K1, sinh n m 1975.
2. Ông Nguy n Công T, sinh n m 1971.
Cùng địa chỉ liên hệ: 748/9 B (số mới: 110/11 B), Ph ờng A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là ph ờng R, Thành phố Hồ Chí Minh), theo Giấy ủy quyền ngày 18-01-2024 (có mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
V n phòng C1.
Địa chỉ: Số B N, Ph ờng G, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là ph ờng T, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Minh Đ – Tr ng v n phòng (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Người làm chứng: Ông Chu V n V, sinh n m 1970.
Địa chỉ liên hệ: Tổ F, thôn L, xã T, thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là ph ờng T, Thành phố Hồ Chí Minh) (có mặt).
- Người kháng cáo: Ông Chu V n V – là ng ời đ i diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Đỗ Thị P, ông Ph m V n N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là ông Chu Văn V trình bày:
Ngày 28-3-2022, vợ chồng bà Đỗ Thị P, ông Ph m V n N cùng vợ chồng bà Tr ơng Thị K, ông Lê Đình C đã thoả thuận ký Hợp đồng bán đất viết tay với nội dung: Bà P, ông N chuyển nh ợng cho bà K, ông C quyền sử dụng đất có diện tích 1.152m2 thuộc thửa đất số 1000, tờ bản đồ số 27, to l c t i xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là ph ờng T, Thành phố Hồ Chí Minh). Giá chuyển nh ợng 13.200.000.000 đồng. Các bên thoả thuận diện tích đất 1.152m2 nêu trên sẽ đ ợc tách ra thành 12 thửa đất, thời h n th c hiện thủ tục tách thửa là 14 tháng kể từ ngày đặt cọc. Sau khi tách đ ợc 12 thửa nhỏ thì các bên sẽ ra V n phòng công chứng để ký hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất và bà K, ông C sẽ có trách nhiệm thanh toán 3.200.000.000 đồng còn l i.
Quá trình th c hiện hợp đồng trên thì phía bà P, ông N đã nộp đơn xin tách thửa t i cơ quan quản lý đất đai có thẩm quyền, làm đơn xin hiến đất làm đ ờng để đủ điều kiện tách thửa, tuy nhiên đến nay vẫn ch a có kết quả giải quyết đơn của bà P, ông N.
Đến ngày 28-5-2023, bà K, ông C đã yêu cầu bà P, ông N ký Biên bản thoả thuận viết tay với nội dung nh sau:
Hai bên thống nhất kết thúc hợp đồng mua bán đất ký ngày 28-3-2022, bà P, ông N chấp nhận trả cho bà K, ông C số tiền 12.000.000.000 đồng với lý do bà P, ông N không th c hiện đ ợc việc tách thửa đất số 1000, tờ bản đồ số 27 nêu trên thành 12 thửa nhỏ nh đã thoả thuận t i Hợp đồng bán đất ngày 28-3-2022.
Ph ơng thức trả tiền: Ngày 01-6-2023, bà P trả cho bà K số tiền 1.500.000.000 đồng; ngày 01-9-2023, bà P trả cho bà K số tiền 500.000.000 đồng; số tiền 10.000.000.000 đồng còn l i bà P trả cho bà K trong vòng 02 n m với hệ số tr ợt giá: Từ ngày 29-5-2023 đến ngày 28-5-2024 là 1,5% /tháng; từ ngày 29-5-2024 đến ngày 28-5-2025 là 2% /tháng.
Cùng với thoả thuận trên, bà K, ông C đã yêu cầu bà P, ông N thế chấp thửa đất số 1002, tờ bản đồ số 27 với diện tích 7.102m2 to l c t i xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là ph ờng T, Thành phố Hồ Chí Minh) để bảo đảm cho việc thanh toán số tiền trên.
Ngày 29-5-2023, bà K, ông C cùng bà P, ông N đã ký hợp đồng thế chấp t i V n phòng C1, theo hợp đồng thế chấp số 1277 quyển số 01/2023 Tp/CC-SCC/HĐGD.
Th c hiện thỏa thuận, bà P đã chuyển thanh toán cho ông C số tiền 1.500.000.000 đồng, và 155.000.000 đồng tiền lãi của 01 tháng.
Nay bà P, ông N nhận thấy việc ông bà ký vào Biên bản thoả thuận ngày 28-5-2023 và ký Hợp đồng thế chấp ngày 29-5-2023 là không phù hợp, ảnh h ng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông bà. Cụ thể theo thoả thuận t i Hợp đồng bán đất ngày 28-3-2022 thì bà P, ông N đã th c hiện thủ tục tách thửa, cụ thể nộp đơn xin hiến đất làm đ ờng t i cơ quan có thẩm quyền, tuy nhiên đến nay ch a đ ợc phê duyệt là do chính sách của nhà n ớc, không phải do lỗi của bà P, ông N. Việc bà K, ông C đổi ý không mua đất thì phải chịu mất tiền cọc, bà P, ông N không có nghĩa vụ phải trả l i tiền cọc là 10.000.000.000 đồng cho bà K, ông C, nên thoả thuận t i Biên bản thoả thuận ngày 28-5-2023 là không đúng. Việc bà P, ông N ký vào biên bản thoả thuận này là do bà K có hành vi đe do , ép buộc.
Do đó, bà P ông N kh i kiện yêu cầu các nội dung sau:
- Yêu cầu Toà án tuyên hủy thoả thuận t i Biên bản thoả thuận ngày 28-5-2023 ký giữa bà P, ông N và bà K, ông C.
- Yêu cầu bà K, ông C thanh toán l i cho bà P, ông N số tiền 1.500.000.000 đồng và 155.000.000 đồng là tiền bà P, ông N đã thanh toán cho bà K, ông C, tổng cộng là 1.655.000.000 đồng theo Biên bản thỏa thuận ngày 28-5-2023.
- Yêu cầu bà K, ông C tiếp tục th c hiện thoả thuận t i Hợp đồng bán đất ngày 28-3-2022, cụ thể: Bà P, ông N ra V n phòng công chứng ký chuyển nh ợng thửa đất số 1000, tờ bản đồ số 27 diện tích 1.152m2 to l c t i xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là ph ờng T, Thành phố Hồ Chí Minh) cho bà K, ông C. Bà K, ông C phải tiếp tục thanh toán cho bà P, ông N số tiền 3.200.000.000 đồng. Tr ờng hợp bà K, ông C nhất quyết không tiếp tục nhận chuyển nh ợng quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên thì phải chịu mất số tiền đã đặt cọc là 10.000.000.000 đồng.
Yêu cầu huỷ Hợp đồng thế chấp tài sản số công chứng 1227, quyển số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 29-5-2023 t i V n phòng C1 giữa bà K, ông C với bà P, ông N đối với thửa đất số 1002, tờ bản đồ số 27 với diện tích 7.102m2 to l c t i xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là ph ờng T, Thành phố Hồ Chí Minh). Yêu cầu bà K, ông N trả l i bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1002, tờ bản đồ số 27 cho bà P, ông N.
Đối với yêu cầu phản tố của bà K, ông C, nguyên đơn có ý kiến nh sau: Bà P, ông N không đồng ý với yêu cầu phản tố của bị đơn. Bà P xác định việc bà và ông N ký biên bản thoả thuận viết tay ngày 28-5-2023 là do bị ép buộc. Th c tế bà K, ông C ch a giải ngân số tiền 10.000.000.000 đồng cho ông bà nên nay bà K, ông C yêu cầu ông bà thanh toán số tiền 10.500.000.000 đồng và tiền lãi với mức lãi suất 1,6%/tháng/10.000.000.000 đồng tính từ tháng 07-2023 đến nay thì ông bà không đồng ý.
Bà P thống nhất hoàn toàn với phần trình bày của ông V và không bổ sung gì thêm.
T i phiên tòa sơ thẩm: Nguyên đơn giữ nguyên toàn bộ yêu cầu kh i kiện nh đã trình bày trên, không bổ sung gì thêm.
Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Thế K1 trình bày:
Ông xác nhận ngày 28-3-2022, vợ chồng bà Tr ơng Thị K, ông Lê Đình C và bà Đỗ Thị P, ông Ph m V n N đã thoả thuận ký Hợp đồng bán đất viết tay với nội dung: Bà P, ông N chuyển nh ợng cho bà K, ông C quyền sử dụng đất có diện tích 1.152m2 thuộc thửa đất số 1000, tờ bản đồ số 27, to l c t i xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là ph ờng T, Thành phố Hồ Chí Minh). Giá chuyển nh ợng 13.200.000.000 đồng. Các bên thoả thuận đối với diện tích đất 1.152m2 sẽ đ ợc tách ra thành 12 thửa đất, thời h n th c hiện thủ tục tách thửa là 14 tháng kể từ ngày đặt cọc. Sau khi tách đ ợc 12 thửa nhỏ thì các bên sẽ ra V n phòng công chứng để ký hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất và bà K, ông C sẽ có trách nhiệm thanh toán 3.200.000.000 đồng còn l i.
Quá trình th c hiện hợp đồng, bà P, ông N đã không th c hiện đúng thoả thuận, cụ thể sau thời h n 14 tháng bà P, ông N vẫn không th c hiện xong thủ tục tách thửa 1000 thành 12 thửa nhỏ để các bên ký Hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất.
Do đó, ngày 28-5-2023 giữa 2 bên đã ngồi l i với nhau để thoả thuận l i, cụ thể: Hai bên thống nhất kết thúc Hợp đồng mua bán đất ký ngày 28-3-2022, bà P, ông N đồng ý thanh toán cho bà K, ông C số tiền 12.000.000.000 đồng với lý do bà P, ông N không th c hiện đ ợc việc tách thửa thành 12 thửa nhỏ đối với thửa đất số 1000, tờ bản đồ số 27, diện tích 1.152m2 to l c t i xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nh đã thoả thuận t i Hợp đồng bán đất ngày 28-3-2022.
Ph ơng thức trả tiền: Ngày 01-6-2023 bà P trả cho bà K số tiền 1.500.000.000 đồng; ngày 01-9-2023 bà P trả cho bà K số tiền 500.000.000 đồng; số tiền 10.000.000.000 đồng còn l i bà P trả cho bà K trong vòng 02 n m với hệ số tr ợt giá: Từ ngày 29-5-2023 đến ngày 28-5-2024 là 1,5% /tháng; từ ngày 29-5-2024 đến ngày 28-5-2025 là 2% /tháng.
Sau đó hai bên thỏa thuận l i số tiền 10.000.000.000 đồng đ ợc xem là khoản vay bà P, ông N vay của bà K, ông C, thời h n vay 03 n m, với mức lãi suất 1,6%/tháng.
Để đảm bảo cho nghĩa vụ thanh toán số tiền trên thì bà P, ông N đã thế chấp thửa đất số 1002, tờ bản đồ số 27 với diện tích 7.102m2 to l c t i xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là ph ờng T, Thành phố Hồ Chí Minh) cho bà K, ông C, theo Hợp đồng thế chấp ký t i V n phòng C1, số công chứng 1277 quyển số 01/2023 Tp/CC-SCC/HĐGD ngày 29-5-2023. T i hợp đồng thế chấp xác định thửa đất trên đ ợc thế chấp để bảo đảm cho nghĩa vụ thanh toán số tiền 10.000.000.000 đồng, thời h n thanh toán 03 n m, lãi suất 1,6%/tháng, tiền lãi đ ợc thanh toán một tháng một lần vào ngày cuối tháng bằng hình thức chuyển khoản vào số tài khoản 070005410061 của ông Lê Đình C m t i Ngân hàng S1.
Th c hiện thoả thuận, ngày 29/5/2023 bà P đã chuyển thanh toán cho ông C số tiền 1.500.000.000 đồng, ngày 28-6-2023 bà P đã chuyển thanh toán cho ông C 155.000.000 đồng tiền lãi của 01 tháng tính từ ngày 29-5-2023 đến ngày 28-6-2023. Sau ngày 28-6-2023 đến nay bà P, ông N đã vi ph m thoả thuận thanh toán nh các bên đã thoả thuận ngày 29-5-2023 và đã kh i kiện bà K, ông C t i Toà án.
Nay ông có ý kiến đối với yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn nh sau:
Bị đơn hoàn toàn không đồng ý với yêu cầu kh i kiện của bà P, ông N.
Việc bà P cho rằng ông C, bà K ép buộc bà P, ông N ký Biên bản thoả thuận ngày 28-5-2023 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 29-5-2023 là không đúng s thật. Bị đơn xác định các bên đã t nguyện thoả thuận ký với nhau biên bản thoả thuận và hợp đồng thế chấp. Tr ờng hợp bà P cho rằng có s ép buộc, đe do từ bà K, ông C thì phải đ a ra chứng cứ để chứng minh.
Nay đối với yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn thì bà K, ông C có yêu cầu phản tố nh sau:
- Yêu cầu Toà án tuyên chấm dứt thỏa thuận vay với số tiền 10.000.000.000 đồng thể hiện t i Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng 1277 quyển số 01/2023 Tp/CC-SCC/HĐGD ngày 29-5-2023 ký t i V n phòng C1 giữa ông Lê Đình C, bà Tr ơng Thị K và bà Đỗ Thị P1, ông Ph m V n N;
- Yêu cầu bà Đỗ Thị P1, ông Ph m V n N thanh toán số tiền vay là 10.000.000.000 đồng, số tiền 500.000.000 đồng còn nợ theo biên bản thỏa thuận ngày 28-5-2023 và tiền lãi với mức lãi suất 1,6%/tháng/số tiền 10.000.000.000 đồng tính từ ngày 01-7-2023 đến ngày xét xử là 2.357.000.000 đồng. Tổng cộng là 12.857.000.000 đồng.
- Tr ờng hợp bà P, ông N vi ph m nghĩa vụ thanh toán thì yêu cầu Toà án tuyên bà K, ông C đ ợc quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là thửa đất số 1002, tờ bản đồ số 27, to l c t i xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là ph ờng T, Thành phố Hồ Chí Minh), đ ợc S Tài nguyên và Môi tr ờng tỉnh B công nhận quyền sử dụng đất cho bà P, ông N ngày 27-11-2018, theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 1227 quyển số 01/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 29-5-2023 t i V n phòng C1 để thu hồi nợ.
Người làm chứng ông Chu Văn V trình bày:
Ông xác nhận ông chứng kiến và làm chứng toàn bộ quá trình bà P, ông N và bà K, ông C thỏa thuận các nội dung liên quan đến Hợp đồng bán đất ngày 28-3-2022 theo nội dung Biên bản thỏa thuận ngày 28-5-2023 mà bà P đã cung cấp cho Tòa án. Các nội dung thỏa thuận đ ợc đánh máy t i Biên bản thỏa thuận ngày 28-5-2023 là s t nguyện thỏa thuận của bà P, ông N và bà K, ông C. Các bên ký Biên bản thỏa thuận ngày 28-5-2023 t i nhà riêng của bà P, ông N số 22 V, Ph ờng I, thành phố V. Nội dung nh sau: Giữa bà P, ông N và bà K, ông C thỏa thuận chấm dứt hợp đồng bán đất ngày 28-3-2022 đã ký giữa 2 bên đối với thửa đất số 1000, tờ bản đồ số 27, tọa l c t i xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là ph ờng T, Thành phố Hồ Chí Minh). Lý do các bên thỏa thuận chấm dứt vì nhà n ớc không cho tách thửa 1000 ra thành 12 thửa theo thỏa thuận t i Hợp đồng bán đất ngày 28-3-2022 nên các bên ký biên bản thỏa thuận để chấp dứt hợp đồng bán đất đồng thời giải quyết số tiền bà K, ông C đã đặt cọc cho bà P, ông N. Cụ thể bà P, ông N đồng ý trả l i cho bà K, ông C tổng số tiền 12.000.000.000 đồng theo thỏa thuận t i Hợp đồng bán đất ngày 28-3-2022. Tuy nhiên, bà P, ông N ch a có tiền trả ngay nên các bên thỏa thuận bà P, ông N thế chấp thửa đất số 1002, tờ bản đồ số 27, tọa l c t i xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa
- Vũng Tàu (nay là ph ờng T, Thành phố Hồ Chí Minh) để bảo đảm cho nghĩa vụ thanh toán tiền của bà P, ông N đối với bà K, ông C nh đã thỏa thuận. Ngoài ra, các bên còn thỏa thuận tiền tr ợt giá cụ thể t i nội dung đánh máy của Biên bản thỏa thuận ngày 28-5-2023 nh nguyên đơn đã cung cấp cho Tòa án.
Ông xác nhận không phải bà K, ông C ép buộc bà P, ông N ký biên bản thỏa thuận trên mà bà K có nói sẽ chuẩn bị đồ đến nhà bà P nếu bà P không trả tiền cho bà K, một phần do ông N bệnh nên muốn s việc đ ợc giải quyết nhanh chóng nên các bên đã t nguyện ký Biên bản thỏa thuận ngày 28-5-2023.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 58/2024/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là Tòa án nhân dân khu vực X - Thành phố Hồ Chí Minh) đã tuyên xử:
1. Không chấp nhận một phần yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn bà Đỗ Thị P, ông Ph m V n N đối với bị đơn ông Lê Đình C, bà Tr ơng Thị K về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc và tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất” cụ thể:
1.1. Không chấp nhận yêu cầu của bà Đỗ Thị P, ông Ph m V n N về việc yêu cầu ông Lê Đình C, bà Tr ơng Thị K tiếp tục th c hiện thỏa thuận t i giấy tay Hợp đồng bán đất ngày 28-3-2022;
1.2. Không chấp nhận yêu cầu của bà Đỗ Thị P, ông Ph m V n N về việc yêu cầu ông Lê Đình C, bà Tr ơng Thị K thanh toán số tiền 1.655.000.000 đồng;
1.3. Không chấp nhận yêu cầu của bà Đỗ Thị P, ông Ph m V n N về việc yêu cầu Tòa án tuyên hủy thỏa thuận t i giấy tay Biên bản thỏa thuận ngày 28-5-2023 ký giữa bà bà Đỗ Thị P, ông Ph m V n N và ông Lê Đình C, bà Tr ơng Thị K.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn bà Đỗ Thị P, ông Ph m V n N đối với bị đơn ông Lê Đình C, bà Tr ơng Thị K về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc và tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất”, cụ thể:
2.1. Tuyên hủy Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng 1277, quyển số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 29-5-2023 giữa bà Đỗ Thị P, ông Ph m V n N và ông Lê Đình C, bà Tr ơng Thị K ký t i V n phòng C1 đối với thửa đất số 1002, tờ bản đồ số 27, tọa l c t i xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
2.2. Buộc ông Lê Đình C, bà Tr ơng Thị K hoàn trả cho bà Đỗ Thị P, ông Ph m V n N bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 713545 do S Tài nguyên và Môi tr ờng tỉnh B cấp ngày 27-11-2018 cho ông Phan Tr ờng S, Chi nhánh V n phòng đ ng ký đất đai thị xã P cập nhật biến động chuyển nh ợng sang tên ông Ph m V n N, bà Đỗ Thị P ngày 06-7-2022 đối với thửa đất số 1002, tờ bản đồ số 27, tọa l c t i xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
3. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Lê Đình C, bà Tr ơng Thị K đối với nguyên đơn bà Đỗ Thị P, ông Ph m V n N về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc và tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất”, cụ thể:
3.1. Buộc bà Đỗ Thị P, ông Ph m V n N thanh toán cho ông Lê Đình C, bà Tr ơng Thị K số tiền 12.857.333.000 đồng bao gồm 10.000.000.000 đồng là tiền nợ gốc, 500.000.000 đồng là tiền nợ theo Biên bản thỏa thuận ngày 28-5-2023 và 2.357.333.000 đồng là tiền lãi phát sinh tính từ ngày 01-7-2023 đến ngày 23-9-2024 của số tiền nợ 10.000.000.000 đồng.
3.2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Lê Đình C, bà Tr ơng Thị K về việc tr ờng hợp bà Đỗ Thị P, ông Ph m V n N vi ph m nghĩa vụ thanh toán nợ thì ông Lê Đình C, bà Tr ơng Thị K đ ợc quyền phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1002, tờ bản đồ số 27, tọa l c t i xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về nghĩa vụ thi hành án, chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Yêu cầu kháng cáo:
Ngày 08-10-2024, ông Chu V n V – là ng ời đ i diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Đỗ Thị P, ông Ph m V n N có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm theo h ớng chấp nhận toàn bộ yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kh i kiện và yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo h ớng chấp nhận toàn bộ yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn.
Bị đơn giữ nguyên yêu cầu phản tố và đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm.
Các đ ơng s không thỏa thuận đ ợc với nhau về việc giải quyết vụ án và không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới.
- Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn nộp trong thời h n luật định. Những ng ời tiến hành tố tụng đã th c hiện đúng trình t , thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Những ng ời tham gia tố tụng đã th c hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân s .
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ng ời đ i diện theo ủy quyền của nguyên đơn, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
C n cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã đ ợc xem xét t i phiên tòa, trên cơ s kết quả tranh tụng t i phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của đ i diện theo ủy quyền của nguyên đơn nộp trong thời h n luật định nên đ ợc chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Ng ời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan V n phòng công chứng Lê Minh Đ vắng mặt nh ng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử c n cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân s , xử vắng mặt đ ơng s này.
Xét yêu cầu kháng cáo của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:
Xét tính hợp pháp của Hợp đồng bán đất ngày 28-3-2022:
Hợp đồng bán đất ngày 28-3-2022 đ ợc nguyên đơn và bị đơn thừa nhận là do hai bên t nguyện thỏa thuận và ký kết với nhau t i nhà bà P, ông N, không bị ai ép buộc, đe dọa hay lừa dối. Các bên tham gia ký hợp đồng có n ng l c hành vi dân s đầy đủ, mục đích của giao dịch không vi ph m điều cấm của pháp luật, không trái đ o đức xã hội nên thỏa mãn quy định t i Điều 117 Bộ luật Dân s n m 2015. Các bên đều thừa nhận chữ ký, chữ viết của mình trong hợp đồng này. Hợp đồng đ ợc đánh máy nh ng không đ ợc công chứng, chứng th c mà chỉ có chữ ký của hai bên và ng ời làm chứng.
Nội dung hợp đồng hai bên thỏa thuận nh sau: Bên bán là bà Đỗ Thị P và ông Ph m V n N bán cho bên mua là bà Tr ơng Thị K và ông Lê Đình C thửa đất số 1000, tờ bản đồ số 27, diện tích 1.152m2 (trong đó có 1.004m2 thổ c ) t i thôn P, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu với giá 13,2 tỷ đồng gồm 12 lô nhỏ x 1,1 tỷ đồng/lô = 13,2 tỷ đồng. Hai bên thống nhất: Ngày 28-3-2022 đặt cọc 10.000.000.000 đồng, hẹn 14 tháng sau kề từ ngày đặt cọc, có 12 sổ công chứng và trả hết số tiền còn l i là 3,2 tỷ đồng. Nếu sau 14 tháng chị P không ra đ ợc 12 sổ nhỏ thì chị P phải trả l i cho K 12 tỷ. Nếu có sổ sớm chị P thông báo tr ớc cho chị K 1 tháng để chuẩn bị tiền. Nếu có sổ sớm thì ra công chứng sớm… Nếu bên bán đổi ý không bán thì phải đền gấp đôi số tiền đã cọc là 10 tỷ x 2 = 20 tỷ. Nếu bên mua đổi ý không mua nữa thì bị mất số tiền đã cọc là 10 tỷ.
Nh vậy, mặc dù tiêu đề của hợp đồng trên là hợp đồng bán đất, nh ng nội dung của hợp đồng này hoàn toàn phù hợp với nội dung của hợp đồng đặt cọc quy định t i Điều 328 Bộ luật Dân s n m 2015. Do vậy, đủ c n cứ xác định đây là hợp đồng đặt cọc và hợp đồng này đảm bảo tính hợp pháp cả về nội dung và hình thức của hợp đồng, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ cho các bên tham gia.
Về việc thực hiện Hợp đồng đặt cọc ngày 28-3-2022:
Quá trình giải quyết vụ án cấp sơ thẩm, nguyên đơn và bị đơn đều trình bày các bên đã th c hiện Hợp đồng đặt cọc ngày 28-3-2022, cụ thể: Bà K, ông C đã đặt cọc 10 tỷ đồng bằng cách cấn trừ vào số tiền bà P, ông N còn nợ bà K, ông C khi thỏa thuận chuyển nh ợng cổ phần góp vốn mua chung thửa đất số 1002 diện tích 7.102,4m2 t i xã T, thị xã P. Còn bà P ông N cũng đã th c hiện hợp đồng đặt cọc thông qua việc ký hợp đồng dịch vụ với bên thứ 3 để làm thủ tục hiến đất làm đ ờng, tách thửa đất số 1000 thành 12 thửa đất nhỏ nh đã thỏa thuận t i Hợp đồng đặt cọc ngày 28-3-2022. Tuy nhiên, t i phiên tòa phúc thẩm, ông Ph m V n N và bà Đỗ Thị P l i cho rằng ông bà ch a nhận đ ợc số tiền đặt cọc 10 tỷ đồng từ ông C, bà K. Còn ông C, bà K khẳng định ông bà không giao số tiền 10 tỷ đồng tiền đặt cọc cho ông N, bà P là vì tr ớc đó, ngày 19-3-2022, giữa ông bà và ông N, bà P đã thỏa thuận với nhau về việc ông C, bà K bán 50% cổ phần của thửa đất số 1002 cho bà P, ông N với giá 20 tỷ đồng, nh ng ông N, bà P mới chỉ trả cho ông bà đ ợc 10 tỷ tiền mặt, còn nợ l i 10 tỷ. Do ông N, bà P không có tiền để trả tiếp cho ông C, bà K nên đã thỏa thuận bán một miếng đất khác là thửa 1000 cho ông C, bà K với giá 13,2 tỷ đồng, trong đó dùng số tiền 10 tỷ còn nợ trên chuyển thành tiền đặt cọc mua thửa 1000. Vì thế, ông C, bà K đã giao đủ số tiền đặt cọc 10.000.000.000 đồng cho nguyên đơn.
Xét, lời trình bày trên của bị đơn là ông C, bà K là hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ trong hồ sơ vụ án gồm: Hợp đồng đặt cọc ngày 28-3-2022, Hợp đồng bán đất ngày 19-3-2022 và Biên bản thỏa thuận ngày 28-5-2023; phù hợp với lời khai của chính nguyên đơn t i cấp sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm, cụ thể: T i Hợp đồng đặt cọc ngày 28-3-2022 có nội dung: “Trong thực tế, số tiền 10 tỷ cọc ngày 28-3-2022 là của chị P trả chị K trong vụ mua bán cổ phần thửa đất số 1002”; t i Hợp đồng bán đất ngày 19-3-2022 cũng thể hiện bà P, ông N còn nợ tiền mua 50% cổ phần thửa đất 1002 là 10 tỷ đồng. T i biên bản thỏa thuận ngày 28-5-2023 có nội dung thể hiện: Bà P, ông N chấp nhận trả cho bà K, ông C số tiền 12 tỷ đồng, trong đó các bên thừa nhận có 10 tỷ là tiền cọc mua thửa 1000, còn 2 tỷ đồng là tiền tr ợt giá. Bản thân nguyên đơn ông N, bà P cũng xác nhận t i phiên tòa phúc thẩm là có việc ông bà thỏa thuận chuyển 10 tỷ đồng tiền mua 50% cổ phần thửa đất 1002 mà ông bà phải trả cho bị đơn thành tiền cọc mà bị đơn đặt cọc để mua thửa đất 1000. Mặt khác, nếu nguyên đơn ch a nhận đ ợc tiền đặt cọc thì sẽ không có việc ông bà đồng ý trả l i số tiền này cho bị đơn theo Biên bản thỏa thuận ngày 28-5-2023 và cũng không thể có việc nguyên đơn đi làm các thủ tục để tách thửa đất số 1000 cho bị đơn nh đã cam kết trong hợp đồng đặt cọc. Do vậy, hoàn toàn có đủ c n cứ để kết luận: Ông C, bà K đã giao đủ số tiền 10 tỷ đồng đặt cọc mua thửa đất 1000 cho ông N, bà P bằng cách trừ vào số tiền 10 tỷ đồng mà bà P, ông N còn nợ bị đơn khi nhận chuyển nh ợng cổ phần thửa đất số 1002. Ông N cho rằng ông không biết việc thỏa thuận trên giữa bà P với bà K, tuy nhiên trong hợp đồng và biên bản thỏa thuận nêu trên đều có chữ ký ghi họ tên của ông. Bản thân ông thừa nhận chữ ký ghi tên Ph m V n N trong các hợp đồng và biên bản thỏa thuận trên đúng là do ông ký nh ng khi ông ký ông tin t ng vợ là bà P nên không đọc nội dung, không biết thỏa thuận giữa bà P và bà K là gì. Xét ý kiến này của ông N là không có c n cứ nên không đ ợc chấp nhận vì ông là ng ời có n ng l c hành vi dân s đầy đủ, biết đọc, biết viết nên ông phải chịu trách nhiệm với những v n bản, giấy tờ mà ông đã ký xác nhận khi không bị ép buộc, lừa dối.
Xét tính hợp pháp của Biên bản thỏa thuận ngày 28-5-2023:
Ngày 28-5-2023 giữa bà P, ông N và bà K, ông C lập biên bản thỏa thuận với nội dung: “Sau khi bàn bạc, chúng tôi đi đến thống nhất việc kết thúc Hợp đồng mua bán đất ký ngày 28-3-2022 với nội dung như sau: Bà Đỗ Thị P và ông Phạm Văn N chấp nhận trả cho bà Trương Thị K và ông Lê Đình C số tiền 12.000.000.000 đồng. Lý do: Bà P không thực hiện được việc tách thửa 1000, tờ bản đồ số 27 thành 12 thửa nhỏ như đã thỏa thuận trong hợp đồng mua bán đã ký với bà K …”.
Xét nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận chữ ký, chữ viết trong biên bản trên đúng là của mình; nội dung biên bản thỏa thuận trên không trái pháp luật và đ o đức xã hội. T i thời điểm ký biên bản này, các bên đều thừa nhận có đủ n ng l c hành vi dân s . Tuy nhiên, phía nguyên đơn cho rằng ông bà không t nguyện ký biên bản thỏa thuận trên mà bị bà K, ông C ép buộc, đe dọa nên mới ký. Tuy nhiên, ngoài lời khai của chính mình, nguyên đơn không đ a ra đ ợc bất cứ tài liệu chứng cứ nào chứng minh việc bà K, ông C ép buộc, đe dọa bà P, ông N phải ký vào biên bản thỏa thuận trên. Trong khi biên bản trên đ ợc ký t i nhà nguyên đơn, khi thỏa thuận bên phía bị đơn chỉ có ông C, bà K, không có ai đi cùng, bên nguyên đơn t i nhà mình và có luật s Chu V n V cùng tham gia. Bản thân ông V là ng ời tr c tiếp chứng kiến các bên lập biên bản thỏa thuận ngày 28-5-2023 cũng thừa nhận bà P, ông N và bà K, ông C đã t nguyện thỏa thuận các nội dung t i biên bản thỏa thuận ngày 28-5-2023; bà K, ông C không có hành vi nào ép buộc, đe đọa, uy hiếp bà P, ông N, chỉ nói nếu nguyên đơn không đồng ý thỏa thuận thì ông C, bà K sẽ đến t i nhà bà P, ông N. Nh vậy, xét cả về thời gian, địa điểm, t ơng quan l c l ợng và nội dung trao đổi giữa hai bên không có c n cứ để cho rằng nguyên đơn bị đe dọa, ép buộc khi ký vào biên bản thỏa thuận trên.
Do vậy, biên bản thỏa thuận trên là hoàn toàn hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các bên tham gia ký kết.
T i phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn cho rằng c n cứ để nguyên đơn yêu cầu tuyên hủy Biên bản thỏa thuận ngày 28-5-2023 là do sau khi ký kết, nguyên đơn xem kỹ l i biên bản, thấy biên bản này có những nội dung bất lợi cho mình, số tiền lãi mà nguyên đơn phải trả cho bị đơn quá lớn nên yêu cầu hủy hợp đồng, ngoài ra không còn c n cứ nào khác. Xét lý do này của nguyên đơn là không có c n cứ để chấp nhận vì nh trên đã phân tích, biên bản thỏa thuận trên do hai bên hoàn toàn t nguyện ký kết với nhau để kết thúc hợp đồng đặt cọc ngày 28-3-2022, nếu nguyên đơn cho rằng có điều khoản bất lợi cho mình thì tr ớc khi ký với s có mặt của luật s bên mình, nguyên đơn đ ợc quyền yêu cầu thay đổi, điều chỉnh nội dung biên bản, còn sau khi đã ký rồi thì các bên phải có nghĩa vụ tuân thủ theo đúng nội dung thỏa thuận đã ký, nếu muốn thay đổi, bổ sung hay hủy bỏ phải đ ợc s đồng ý của bên còn l i hoặc theo quy định của pháp luật.
Về việc thực hiện Biên bản thỏa thuận ngày 28-5-2023:
Các đ ơng s đều thừa nhận: Sau khi hai bên ký biên bản thỏa thuận ngày 28-5-2023 nêu trên, ngày 29-5-2023 bà P, ông N đã chuyển khoản thanh toán cho ông Lê Đình C số tiền 1.500.000.000 đồng; cùng ngày 29-5-2023 bà P, ông N và bà K, ông C đã ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1002, tờ bản đồ số 27, tọa l c t i xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để đảm bảo cho khoản nợ 10.000.000.000 đồng; ngày 28-6-2023 bà P đã chuyển thanh toán cho ông Lê Đình C tiền lãi tính từ ngày 29-5-2023 đến ngày 28-6-2023 với số tiền 155.000.000 đồng. Nh vậy, nguyên đơn đã t nguyện th c hiện đúng các nội dung thỏa thuận trong Biên bản thỏa thuận ngày 28-5-2023, chỉ sau ngày 28-6-2023, nguyên đơn mới ngừng trả tiền lãi cho bị đơn và sau đó nộp đơn kh i kiện bị đơn t i Tòa án. Điều này cho thấy nguyên đơn đã vi ph m những nội dung đ ợc các bên cam kết, thỏa thuận t i Biên bản ngày 28-5-2023 nh ng l i kh i kiện yêu cầu bị đơn trả l i số tiền mà nguyên đơn đã t nguyện giao cho bị đơn để th c hiện thỏa thuận giữa các bên là không phù hợp quy định của pháp luật. Cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu kh i kiện này của nguyên đơn là hoàn toàn có c n cứ nên cần giữ nguyên.
Đối với Hợp đồng thế chấp ngày 29-5-2023:
Bản án sơ thẩm đã tuyên hủy hợp đồng thế chấp này, các đ ơng s không có kháng cáo đối với nội dung này nên không xem xét l i.
Đối với yêu cầu bị đơn tiếp tục thực hiện Hợp đồng bán đất ngày 28-3-2022, nếu không thực hiện thì bị đơn bị mất số tiền cọc 10 tỷ đồng:
Do nguyên đơn không th c hiện đ ợc đúng thỏa thuận trong hợp đồng bán đất ngày 28-3-2022 là tách thửa đất số 1000 thành 12 thửa đất nhỏ trong thời h n 14 tháng kể từ ngày ký hợp đồng đặt cọc nên đến ngày 28-5-2023, sau khi hết 14 tháng đã cam kết, hai bên đã ký Biên bản thỏa thuận nêu trên để kế thúc hợp đồng đặt cọc. Nh trên đã phân tích, biên bản thỏa thuận ngày 28-5-2023 là hợp pháp nên kể từ ngày này, các bên không phải th c hiện nghĩa vụ theo hợp đồng đặt cọc ngày 28-3-2022 nữa mà chỉ phải th c hiện theo đúng nội dung Biên bản thỏa thuận ngày 28-5-2022. Vì vậy, việc nguyên đơn kh i kiện yêu cầu bị đơn phải tiếp tục th c hiện hợp đồng đặc cọc, nếu không sẽ bị mất số tiền cọc 10 tỷ đồng là hoàn toàn không có c n cứ nên không đ ợc chấp nhận.
Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn:
T i Biên bản thỏa thuận ngày 28-5-2023, bà P, ông N t nguyện đồng ý thanh toán cho bà K, ông C số tiền 12.000.000.000 đồng, theo đó đã thanh toán 1.500.000.000 đồng. Còn nợ 10.500.000.000 đồng. Đối với số tiền 500.000.000 đồng bà P, ông N cam kết thanh toán vào ngày 01-9-2023 nh ng đến nay bà P thừa nhận ch a thanh toán nên cần buộc bà P, ông N phải thanh toán cho bà K, ông C số tiền trên.
Đối với số tiền 10.000.000.000 đồng, t i Biên bản thỏa thuận ngày 28-5-2023 các đ ơng s thỏa thuận thời h n thanh toán là 02 n m với hệ số tr ợt giá từ ngày 29-5-2023 đến 28-5-2024 là 1,5%/tháng; từ 29-5-2024 đến ngày 28-5-2025 là 2%/tháng, tiền tr ợt giá trả 1 tháng 1 lần vào cuối kỳ. Để đảm bảo cho việc bà P, ông N thanh toán số tiền 10.000.000.000 đồng thì bà P, ông N đã thế chấp cho bà K, ông C quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1002, tờ bản đồ số 27. Thỏa thuận trên đ ợc các bên th c hiện bằng việc ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất t i V n phòng C1 ngày 29-5-2023. T i hợp đồng thế chấp xác định thửa đất trên đ ợc thế chấp để bảo đảm cho nghĩa vụ thanh toán số tiền 10.000.000.000 đồng, thời h n thanh toán 03 n m, lãi suất 1,6%/tháng, tiền lãi đ ợc thanh toán một tháng một lần vào ngày cuối tháng.
Xét, mặc dù Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 29-5-2023 ch a phát sinh hiệu l c do ch a đ ợc đ ng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật và đã bị tuyên hủy theo bản án sơ thẩm, nh ng nội dung thỏa thuận về nghĩa vụ trả số tiền nợ gốc 10 tỷ đồng, chuyển khoản tiền này thành tiền vay và lãi suất phải trả là 1,6%/tháng thì vẫn có hiệu l c pháp luật và các bên vẫn phải th c hiện theo nội dung thỏa thuận này.
Về lãi suất: Theo thỏa thuận t i Biên bản ngày 28-5-2023 là 2%/tháng hoặc 3%/tháng là v ợt quá mức 20%/tháng theo quy định t i Điều 468 Bộ luật Dân s về lãi suất cho vay. Vì vậy, khi ký hợp đồng thế chấp, các bên đã thỏa thuận l i lãi suất và thời h n trả nợ là 1,6%/tháng và thời h n là 03 n m. Thỏa thuận này hoàn toàn phù hợp quy định của pháp luật và có lợi hơn cho nguyên đơn. Do vậy, cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về việc yêu cầu nguyên đơn trả cho bị đơn 10 tỷ đồng tiền nợ gốc, 500.000.000 đồng tiền nợ theo Biên bản thỏa thuận ngày 28-5-2023 và tiền lãi 1,6%/tháng từ ngày 01-7-2023 đến ngày xét xử sơ thẩm là hoàn toàn có c n cứ, phù hợp quy định của pháp luật nên cần giữ nguyên quyết định này.
Về yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp của bà K, ông C trong trường hợp bà P, ông N không thanh toán được nợ:
Bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu này, bị đơn không kháng cáo nên không xem xét l i.
Từ những c n cứ, nhận định nh trên, Hội đồng xét xử thống nhất không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của đ i diện nguyên đơn, chấp nhận đề nghị của đ i diện Viện kiểm sát, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Về chi phí tố tụng: Yêu cầu kh i kiện không đ ợc chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu và đã nộp xong.
Về án phí dân s sơ thẩm: Bà P, ông N là ng ời cao tuổi và có đơn xin mi n giảm án phí nên đ ợc mi n nộp án phí dân s sơ thẩm.
Yêu cầu phản tố của bị đơn ông C, bà K chỉ đ ợc chấp nhận một phần nên ông C, bà K phải nộp 300.000 đồng án phí không có giá ng ch đối với yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của nguyên đơn không chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí dân s phúc thẩm nh ng đ ợc mi n nộp do là ng ời cao tuổi.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
C n cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân s n m 2015, sửa đổi bổ sung n m 2025; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ng ời đ i diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Chu V n V, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm, nh sau:
C n cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân s n m 2015, sửa đổi bổ sung n m 2025; các điều 117, 118, 119, 275, 280, 317, 318, 319, 323, 328, 357, 401, 423, 425, 427, 468 Bộ luật Dân s n m 2015; Điều 167, 195, 197 Luật Đất đai n m 2013; Điều 4, 6, 25 Nghị định 99/2022/NĐ-CP ngày 30-11-2022 của Chính phủ về đ ng ký biện pháp bảo đảm; Điều 12, Điều 26 và Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Th ờng vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận một phần yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn bà Đỗ Thị P, ông Ph m V n N đối với bị đơn ông Lê Đình C, bà Tr ơng Thị K về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc và tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất” cụ thể:
1.1. Không chấp nhận yêu cầu của bà Đỗ Thị P, ông Ph m V n N về việc yêu cầu ông Lê Đình C, bà Tr ơng Thị K tiếp tục th c hiện thỏa thuận t i Hợp đồng bán đất ngày 28-3-2022;
1.2. Không chấp nhận yêu cầu của bà Đỗ Thị P, ông Ph m V n N về việc yêu cầu ông Lê Đình C, bà Tr ơng Thị K thanh toán số tiền 1.655.000.000đ (một tỷ sáu tr m n m m ơi l m triệu) đồng;
1.3. Không chấp nhận yêu cầu của bà Đỗ Thị P, ông Ph m V n N về việc yêu cầu Tòa án tuyên hủy thỏa thuận t i Biên bản thỏa thuận ngày 28-5-2023 ký giữa bà Đỗ Thị P, ông Ph m V n N và ông Lê Đình C, bà Tr ơng Thị K.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn bà Đỗ Thị P, ông Ph m V n N đối với bị đơn ông Lê Đình C, bà Tr ơng Thị K về việc:
2.1. Tuyên hủy Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng 1277, quyển số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 29-5-2023 giữa bà Đỗ Thị P, ông Ph m V n N và ông Lê Đình C, bà Tr ơng Thị K ký t i V n phòng C1 đối với thửa đất số 1002, tờ bản đồ số 27, tọa l c t i xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
2.2. Buộc ông Lê Đình C, bà Tr ơng Thị K hoàn trả cho bà Đỗ Thị P, ông Ph m V n N bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 713545 do S Tài nguyên và Môi tr ờng tỉnh B cấp ngày 27-11-2018 cho ông Phan Tr ờng S, Chi nhánh v n phòng đ ng ký đất đai thị xã P, cập nhật biến động chuyển nh ợng sang tên ông Ph m V n N, bà Đỗ Thị P ngày 06-7-2022 đối với thửa đất số 1002, tờ bản đồ số 27, tọa l c t i xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
3. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Lê Đình C, bà Tr ơng Thị K đối với nguyên đơn bà Đỗ Thị P, ông Ph m V n N về việc:
3.1. Buộc bà Đỗ Thị P, ông Ph m V n N thanh toán cho ông Lê Đình C, bà Tr ơng Thị K số tiền 12.857.333.000 (m ời hai tỷ, tám tr m n m m ơi bảy triệu, ba tr m ba m ơi ba ngàn) đồng, bao gồm: 10.000.000.000 (m ời tỷ) đồng là tiền nợ gốc, 500.000.000 (n m tr m triệu) đồng là tiền nợ theo Biên bản thỏa thuận ngày 28-5-2023 và 2.357.333.000 (hai tỷ, ba tr m n m m ơi bảy triệu, ba tr m ba m ơi ba ngàn) đồng là tiền lãi phát sinh từ ngày 01-7-2023 đến ngày 23-9-2024 của số tiền 10.000.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
3.2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Lê Đình C, bà Tr ơng Thị K về việc tr ờng hợp bà Đỗ Thị P, ông Ph m V n N vi ph m nghĩa vụ thanh toán nợ thì ông Lê Đình C, bà Tr ơng Thị K đ ợc quyền phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1002, tờ bản đồ số 27, tọa l c t i xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng 1277, quyển số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 29-5-2023 ký t i V n phòng C1.
4. Về chi phí thu thập chứng cứ, xem xét thẩm định t i chỗ: Bà Đỗ Thị P, ông Ph m V n N phải chịu 5.000.000 (n m triệu) đồng và đã nộp xong.
5. Về án phí dân s sơ thẩm: Bà Đỗ Thị P, ông Ph m V n N đ ợc mi n nộp án phí sơ thẩm.
Ông Lê Đình C, bà Tr ơng Thị K phải nộp 300.000 (ba tr m ngàn) đồng án phí dân s sơ thẩm không có giá ng ch, đ ợc khấu trừ vào số tiền 60.130.000 (sáu m ơi triệu, một tr m ba m ơi ngàn) đồng tiền t m ứng án phí đã nộp, theo Biên lai thu t m ứng án phí số 0003380 ngày 28-6-2024 của Chi cục Thi hành án Dân s thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là Thi hành án dân s Thành phố H). Hoàn trả cho ông Lê Đình C, bà Tr ơng Thị K số tiền 59.830.000 (n m m ơi chín triệu, tám tr m ba m ơi ngàn) đồng.
6. Về án phí phúc thẩm:
Bà Đỗ Thị P, ông Ph m V n N đ ợc mi n nộp.
7. Bản án dân s phúc thẩm có hiệu l c pháp luật kể từ ngày tuyên án (06-8-2025).
Tr ờng hợp bản án, quyết định đ ợc thi hành theo qui định t i Điều 2 Luật Thi hành án dân s thì ng ời đ ợc thi hành án dân s , ng ời phải thi hành án dân s có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t nguyện thi hành án hoặc bị c ỡng chế thi hành án theo qui định t i các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân s ; thời hiệu thi hành án đ ợc th c hiện theo qui định t i Điều 30 Luật Thi hành án dân s .
| Nơi nhận: - VKSND Tp. Hồ Chí Minh; - TAND khu v c X – Tp. Hồ Chí Minh; - VKSND khu v c X – Tp. Hồ Chí Minh; - Thi hành án dân s Tp. Hồ Chí Minh; - Các đ ơng s ; - L u: Tòa Dân s , Hồ sơ vụ án (07). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Cao Minh Vỹ |