vanban.org

Bản án 866/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng V. Buộc ông Lê Trí T có trách nhiệm trả cho Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng V số tiền 21.

Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông T còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất nợ quá hạn mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xon… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng V tranh chấp hợp đồng tín dụng với ông Lê Trí T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng V. Buộc ông Lê Trí T có trách nhiệm trả cho Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng V số tiền 21.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122 Bộ luật Dân sự; Điều 123 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 866/2019/DS-ST
Ngày: 21/11/2019
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Việt

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Hoàng Thu

2. Bà Nguyễn Ngọc Thủy

- Thư ký phiên tòa: Ông Quách Minh Tuyền- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa: Ông Đồng Văn Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2019 tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 297/2019/TLST-DS ngày 09 tháng 5 năm 2019 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 375/2019/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 9 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 316/2019/QĐST-DS ngày 23 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng V;

Địa chỉ: số 9 ĐVB, phường X, quận Y, Thành phố H.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lô Bằng G, chức vụ: Chủ tịch hội đồng thành viên.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Thanh T, chức vụ: Trưởng nhóm Tố tụng - Phòng thu hồi nợ pháp lý – Trung tâm thu hồi nợ - Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng V (văn bản ủy quyền số 136/UQ-VH.18 lập ngày 19/8/2018).

Người đại diện theo ủy quyền (ủy quyền lại): Ông Vũ Duy N, sinh năm: 1991 (Vắng mặt do có yêu cầu giải quyết vắng mặt).

Địa chỉ: số 20 CH, phường X, quận TB, Thành phố H (văn bản ủy quyền lập ngày 10/3/2019).

2. Bị đơn: Ông Lê Trí T, sinh năm: 1990 (Vắng mặt)

Địa chỉ: ấp 4, xã BL, huyện BC, Thành phố H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Đại diện của nguyên đơn có ông Vũ Duy N trình bày:

Vào ngày 18/8/2016, ông Lê Trí T có ký đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20160829-500000-3937 với Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng, để vay số tiền 15.825.000 đồng với lãi suất thỏa thuận 5%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, ông Lê Trí T có trách nhiệm thanh toán số tiền 27.603.000 đồng (gồm cả gốc và lãi), trả chậm liên tiếp trong vòng 24 tháng; 23 tháng đầu, mỗi tháng trả 1.147.000 đồng, tháng cuối cùng trả 1.222.000 đồng, thanh toán vào ngày 01 hàng tháng. Bắt đầu từ ngày 01/10/2016.

Thực hiện hợp đồng, khách hàng đã nhận đủ số tiền để tiêu dùng cá nhân và thanh toán cho Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng tổng số tiền là 6.451.111 đồng. Kể từ ngày 31/7/2017 đến nay, ông Lê Trí T không thanh toán thêm bất cứ khoản nào dù công ty đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở và yêu cầu thanh toán.

Do đó, Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Lê Trí T trả cho Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng V tổng số nợ là 21.151.889 (hai mươi mốt triệu, một trăm năm mươi mốt nghìn, tám trăm tám mươi chín) đồng (gồm khoản nợ gốc và nợ lãi) theo hợp đồng tín dụng số 20160829-500000-3937 ngày 18/8/2016.

Tại phiên tòa, ông Vũ Duy N vắng mặt do có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn ông Lê Trí T mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do nên ông T không có thể hiện ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên toà có ý kiến phát biểu như sau:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng V khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng với ông Lê Trí T. Đây là tranh chấp về hợp đồng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn cư trú tại địa bàn huyện Bình Chánh, nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.

Về việc xét xử vắng mặt các đương sự: Đại diện nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn ông Lê Trí T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập đương sự, Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông T vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:

Căn cứ đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng, số hiệu hồ sơ No 0106282 ngày 18/8/2016, lịch sử thanh toán, lời khai của đại diện nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì đủ cơ sở xác định ông Lê Trí T có vay của Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng V số tiền 15.825.000 đồng, lãi suất thoả thuận 5,00%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, ông Lê Trí T có trách nhiệm trả số tiền 27.603.000 đồng (gồm cả gốc và lãi), trả chậm liên tiếp trong vòng 24 tháng, 23 tháng đầu mỗi tháng trả số tiền 1.147.000 đồng, tháng cuối cùng trả 1.222.000 đồng. Thanh toán vào ngày 01 tây hàng tháng. Bắt đầu thanh toán tiền vào ngày 01/10/2016. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Lê Trí T đã trả được 05 kỳ với số tiền là 6.451.111 đồng, còn nợ phía nguyên đơn với số tiền là 21.151.8889 đồng, trong đó nợ gốc 13.891.319 đồng, nợ lãi 7.260.570 đồng.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Do đó, lãi suất do chậm thực hiện nghĩa vụ mà nguyên đơn yêu cầu đối với ông T là có cơ sở.

Tòa án triệu tập ông Lê Trí T đến Tòa án để ghi nhận ý kiến, giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên tòa giải quyết vụ án tranh chấp nêu trên nhưng ông T không đến Tòa án để tham gia giải quyết vụ án. Vì vậy, ông T đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình và phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự. Mặt khác, theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp làm cơ sở giải quyết vụ án.

Từ những lý lẽ đã viện dẫn nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng V và buộc ông T có trách nhiệm trả cho Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng V số tiền 21.151.889 đồng, trả 01 lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải trả theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVWQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, khoản 1 Điều 92, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 429, 688 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 122, 123, 124, 471, 474 Bộ luật Dân sự năm 2005;

Áp dụng khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVWQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng V. Buộc ông Lê Trí T có trách nhiệm trả cho Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng V số tiền 21.151.889 đồng (hai mươi mốt triệu một trăm năm mươi mốt ngàn tám trăm tám mươi chín đồng), trong đó tiền nợ gốc là 13.891.319 đồng và tiền nợ lãi 7.260.570 đồng, trả 01 lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông T còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất nợ quá hạn mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ gốc này.

2. Về án phí:

2.1. Ông Lê Trí T chịu 1.057.594 đồng (một triệu không trăm năm mươi bảy ngàn năm trăm chín mươi bốn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

2.2. Hoàn lại cho Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng V số tiền tạm ứng án phí đã nộp 528.797 đồng (năm trăm hai mươi tám ngàn bảy trăm chín mươi bảy đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2018/0025223 ngày 03 tháng 5 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được giao bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai tại địa phương.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ