vanban.org

Bản án 865/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thanh Nh đối với ông Trần H:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Thanh Nh được ly hôn với ông Trần H. Giấy chứng nhận kết hôn số 35, quyển số 01/2015, đăng ký kết hôn giữa bà Trần Thị Thanh Nh và ông Trần H ngày 07/7/2015 tại Ủy ban nhân dân Phường M, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh không còn hiệu lực khi bản án này có hiệu lực pháp… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thanh Nh và bị đơn: Ông Trần H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thanh Nh đối với ông Trần H:
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 865/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 07/7/2022
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Văn Huy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Liên.

2. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm.

Thư ký phiên toà: Ông Võ Công Danh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Hiền – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 472/2021/TLST – HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 124/2022/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thanh Nh, sinh năm: 1994 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Hộ khẩu thường trú: Khu phố M, Phường A, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tạm trú: Đường N, Phường P, Tp. T, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Ông Trần H, sinh năm: 1982 (vắng mặt).

Hộ khẩu thường trú: Đường L, Phường M, Quận X, Tp. Hồ Chí Minh.

Cư trú: Ấp M, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 18 tháng 5 năm 2021 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Trần Thị Thanh Nh trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Năm 2015 bà và ông Trần H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân Phường M, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn. Sau khi kết hôn một thời gian thì vợ chồng không còn hạnh phúc và nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông H dùng chất gây nghiện, hai vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2018. Hiện bà không còn tình cảm với ông H và nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn vợ chồng nghiêm trọng không thể hàn gắn được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông H .

Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Phương U, sinh ngày 25/6/2016. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Phương U cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Bị đơn là ông Trần H đã được Tòa án nhân dân huyện H triệu tập và tống đạt Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng không có ý kiến đồng thời vắng mặt tại các phiên họp và phiên tòa xét xử sơ thẩm mà không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.

Tại phiên toà:

Nguyên đơn Trần Thị Thanh Nh có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị đơn Trần H đã được Tòa án nhân dân huyện H triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Tòa án nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý và giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, thời hạn xét xử chưa đúng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đối với việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.

- Quan điểm giải quyết vụ án: Việc bà Trần Thị Thanh Nh yêu cầu ly hôn với ông Trần H là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, bởi bà Nh và ông H không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc nhau, cả hai đã sống ly thân, mâu thuẫn hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào các điều 19, 56, 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn; giao trẻ Phương U cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng; về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn tự khai không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Trần H nhưng ông H không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nh đồng thời vắng mặt tại các phiên họp và phiên tòa xét xử sơ thẩm mà không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên giữa các đương sự không thống nhất được bất kỳ nội dung nào của vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện H, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bà Trần Thị Thanh Nh có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con đối với ông Trần H. Ông Trần H cư trú tại ấp M, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh và quan hệ tranh chấp là Ly hôn, tranh chấp về nuôi con nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về tố tụng: Nguyên đơn Trần Thị Thanh Nh có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn Trần H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành t ử vắng mặt đối với đương sự là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Thanh Nh và ông Trần H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường M, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 07/7/2015 (theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 35, quyển số 01/2015) nên có đủ căn cứ ác định quan hệ hôn nhân giữa bà Nh và ông H là hợp pháp, quyền lợi của các bên được pháp luật bảo vệ.

. Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn Trần Thị Thanh Nh, Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo lời khai của nguyên đơn thì trong quá trình chung sống vợ chồng bà phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông H dùng chất gây nghiện, vì mâu thuẫn nên hai vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2018.

. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã nhiều lần giải thích, động viên bà Nh đoàn tụ gia đình, cho ông H cơ hội để hàn gắn, xây dựng hạnh phúc gia đình cùng nhau nuôi dạy con nên người nhưng bà Nh cho rằng hai vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2018, không còn thương yêu, quý trọng, quan tâm, chăm sóc đến nhau, bản thân bà không còn tình cảm với ông H, mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn.

. Về phần ông H, mặc dù đã được Tòa án nhân dân huyện H tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông H không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nh, không cung cấp tài liệu, chứng cứ đồng thời vắng mặt tại các phiên họp và phiên tòa xét xử sơ thẩm mà không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Trong suốt thời gian 02 vợ chồng sống ly thân cũng như thời gian bà Nh nộp đơn yêu cầu ly hôn, ông H cũng không có bất cứ động thái nào để hàn gắn lại tình cảm vợ chồng, xây dựng hạnh phúc gia đình. Điều này chứng tỏ ông H cũng không còn mong muốn níu kéo cuộc hôn nhân này để vợ chồng cùng vun đắp, xây dựng hạnh phúc gia đình.

. Nhận thấy, hôn nhân chỉ đạt được mục đích khi uất phát từ tình thương yêu giữa hai vợ chồng, có sự tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; vun đắp hạnh phúc, làm tròn quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Tuy nhiên, giữa bà Nh và ông H đã trải qua thời gian dài không chung sống với nhau, không còn thương yêu, quý trọng, quan tâm, chăm sóc đến nhau, mỗi người đều chỉ lo cuộc sống riêng của mình. Như vậy, bà Nh, ông H đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

. Xét mâu thuẫn chung giữa bà Nh và ông H đã trầm trọng, không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà Nh yêu cầu ly hôn là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên có cơ sở để chấp nhận.

. Về con chung: Bà Trần Thị Thanh Nh và ông Trần H có 01 con chung tên Trần Phương U, sinh ngày 25/6/2016. Bà Nh yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Phương U cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

. Xét yêu cầu của bà Nh được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phương U: Theo bà Nh, thì kể từ thời điểm hai vợ chồng sống ly thân cho đến nay, việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Phương U là do bà đảm nhận, ông H chỉ có 01 lần thăm con nhưng yêu cầu bà phải chở con lên ấp M, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh để thăm, ông H không chu cấp nuôi con để một mình bà phải đi làm để lo cho con. Xét bà Nh có đủ điều kiện và có thời gian dài chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Phương U, do đó để bảo đảm về điều kiện nuôi dưỡng, sự phát triển bình thường về tâm sinh lý và quyền lợi của cháu Phương U, Hội đồng xét xử xét yêu cầu của bà Nh được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phương U là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

. Do bà Nh chưa có yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì người không trực tiếp nuôi con chung có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc buộc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Vì vậy, bà Nh, ông H phải tạo điều kiện cho nhau thực hiện quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

. Về tài sản chung: Bà Trần Thị Thanh Nh xác nhận không có tài sản chung nên không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về nợ chung: Bà Trần Thị Thanh Nh xác nhận không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do bà Trần Thị Thanh Nh là người nộp đơn yêu cầu ly hôn đối với ông Trần H nên bà Nh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

. Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên chấp nhận.

. Về kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự ;

- Căn cứ vào Điều 19, Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

- Căn cứ vào các Điều 2, 6, 7, 7a, 9, 30 Luật Thi hành án dân sự;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thanh Nh đối với ông Trần H:

2. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Thanh Nh được ly hôn với ông Trần H.

Giấy chứng nhận kết hôn số 35, quyển số 01/2015, đăng ký kết hôn giữa bà Trần Thị Thanh Nh và ông Trần H ngày 07/7/2015 tại Ủy ban nhân dân Phường M, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh không còn hiệu lực khi bản án này có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung:

Giao cháu Trần Phương U, sinh ngày 25/6/2016 cho bà Trần Thị Thanh Nh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Ông H tạm thời chưa phải cấp dưỡng nuôi con do bà Nh chưa có yêu cầu.

Ông Trần H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con mà không ai được cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì quyền lợi của con chung, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc buộc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.

3. Về tài sản chung: Bà Trần Thị Thanh Nh xác nhận không có tài sản chung nên không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về nợ chung: Bà Trần Thị Thanh Nh xác nhận không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị Thanh Nh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số AA/2019/0075028 ngày 04 tháng 5 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; bà Trần Thị Thanh Nh đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

6. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

7. Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ