vanban.org

Bản án 863/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1-/ Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thu T:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu T được ly hôn ông Nguyễn Hoàng P. Về con chung: Có 03 người con chung tên Nguyễn Thị Hoài T, sinh ngày 06/3/1995, Nguyễn Thị Hoài L, sinh ngày 15/6/2000 và Nguyễn Hoàng Minh T, sinh ngày 01/01/2008. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hon"
  • Tòa quyết gì? 1-/ Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thu T:
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

[
Bản án số: 863/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 19/4/2021
V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ánh Nguyệt

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Tiến Dũng

2. Bà Nguyễn Thị Lượng

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Bá Thu Thư – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2020, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 916/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1971.

Thường trú: 9/1 Nam Cao, khu phố A phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng P, sinh năm 1970.

Thường trú: Ấp 2 xã Hắc Dịch, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Địa chỉ: Nhà không số (kế bên nhà số 64/8/10) đường số 8, khu phố A, phường T Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T trình bày: Bà và ông Nguyễn Hoàng P tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1994, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn trễ hạn năm 2002 tại Ủy ban nhân phường Tân Phú, Quận 9 (nay là thành phố Thủ Đức), Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi lập gia đình chúng tôi sống tự lập. Cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc đến năm 2008 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là ông P không chung thuỷ, không lo cho gia đình, thường xuyên cãi vã, từ đó cuộc sống chung không mạng lại hạnh phúc nên ông bà đã ly thân từ năm 2009 cho đến nay, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà xin được ly hôn với ông P.

Về con chung: Có 03 người con chung tên Nguyễn Thị Hoài T, sinh ngày 06/3/1995, Nguyễn Thị Hoài L, sinh ngày 15/6/2000 và Nguyễn Hoàng Minh T, sinh ngày 01/01/2008. Hiện nay bà đang trực tiếp nuôi con, sau khi ly hôn bà Tyêu cầu nuôi con chung tên Nguyễn Hoàng Minh T, sinh ngày 01/01/2008 và tự nguyện không yêu cầu ông P phải cấp dưỡng nuôi con.

Riêng hai người con chung tên Nguyễn Thị Hoài T, sinh ngày 06/3/1995, Nguyễn Thị Hoài L, sinh ngày 15/6/2000 đã trưởng thành.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Hoàng P mặc dù đã được Tòa án tống đạt, triệu tập các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa hôm nay, bà Nguyễn Thị Thu T có đơn xin vắng mặt trong quá trình xét xử vụ án. Ông Nguyễn Hoàng P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành pháp luật, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt.

Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về tố tụng: Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình nên căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Ông Nguyễn Hoàng P cư trú tại thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị Thu T có đơn xin vắng mặt trong quá trình xét xử vụ án. Bị đơn ông Nguyễn Hoàng P đã được tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt, vì vậy căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung: Bà Nguyễn Thị Thu T và ông Nguyễn Hoàng P tự nguyện kết hôn và chung sống với nhau theo giấy chứng nhận kết hôn số 22 ngày 03/4/2002 do Ủy ban nhân phường Tân Phú, Quận 9 (nay là thành phố Thủ Đức), Thành phố Hồ Chí Minh cấp, do đó hôn nhân của ông bà là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Ngày 09/9/2020 bà Tnộp đơn xin ly hôn với ông P. Trong quá trình hòa giải bà Tkiên quyết xin ly hôn, ông P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa bà Tvà ông P đã xảy ra mâu thuẫn từ lâu, đến nay đời sống hôn nhân không tồn tại, vợ chồng không còn gắn bó tình cảm yêu thương nhau, không còn trách nhiệm chăm sóc lẫn nhau. Hiện nay ông bà đã sống ly thân. Ông Nguyễn Hoàng P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần đến Tòa để giải quyết vụ án nhưng ông P vắng mặt không có lý do. Điều này cho thấy ông P không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình, không chú tâm đến các yêu cầu của bà Tvà cũng không có ý thức tôn trọng pháp luật. Bà Txác định tình cảm vợ chồng giữa bà và ông P không còn, mục đích hôn nhân hiện nay cũng không đạt được, cuộc sống chung không mang lại hạnh phúc, ông bà cũng đã ly thân và nay bà Txin ly hôn, vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà Tvề việc xin ly hôn với ông P.

Về con chung: Căn cứ vào lời trình bày của bà Tvà tài liệu có trong hồ sơ có cơ sở xác định bà Tvà ông P có 03 người con chung tên Nguyễn Thị Hoài T, sinh ngày 06/3/1995, Nguyễn Thị Hoài L, sinh ngày 15/6/2000 và Nguyễn Hoàng Minh T, sinh ngày 01/01/2008, hiện bà đang trực tiếp nuôi con. Bà Tcó yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng người con chung tên Nguyễn Hoàng Minh T, sinh ngày 01/01/2008 và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xét yêu cầu nuôi con chung của bà Thuỷ, Hội đồng xét xử xét thấy bà Tđang trực tiếp nuôi dưỡng người con chung tên Nguyễn Hoàng Minh T, sinh ngày 01/01/2008, hiện đang được chăm sóc, được học tập tốt. Ông P đã được Tòa án thông báo về yêu cầu được nuôi con chung của bà Tnhưng không có ý kiến gì nên yêu cầu tiếp tục được nuôi con chung của bà Tsau khi ly hôn là có cơ sở chấp nhận. Vì vậy căn cứ vào Điều 58, Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Tđược tiếp tục nuôi dưỡng người con chung tên Nguyễn Hoàng Minh T, sinh ngày 01/01/2008 để ổn định môi trường phát triển và học tập. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Tkhông yêu cầu ông P phải cấp dưỡng nuôi con.

Riêng hai người con chung tên Nguyễn Thị Hoài T, sinh ngày 06/3/1995, Nguyễn Thị Hoài L, sinh ngày 15/6/2000 đã trưởng thành.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Txác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là có cơ sở và phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ vào Luật phí và lệ phí năm 2015 bà Tphải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 2 Điều 21, Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Khoản 2 Điều 269, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 80, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

Căn cứ Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014);

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1-/ Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thu T:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu T được ly hôn ông Nguyễn Hoàng P.

Về con chung: Có 03 người con chung tên Nguyễn Thị Hoài T, sinh ngày 06/3/1995, Nguyễn Thị Hoài L, sinh ngày 15/6/2000 và Nguyễn Hoàng Minh T, sinh ngày 01/01/2008.

Giao người con chung tên Nguyễn Hoàng Minh T, sinh ngày 01/01/2008 cho bà Nguyễn Thị Thu T trực tiếp nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con bà Ttự nguyện không yêu cầu.

Riêng hai người con chung tên Nguyễn Thị Hoài T, sinh ngày 06/3/1995, Nguyễn Thị Hoài L, sinh ngày 15/6/2000 đã trưởng thành.

Sau khi ly hôn, cha m vẫn có quyền, ngh a vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, ngh a vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, m hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con. Việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi khi có lý do chính đáng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2-/ Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thu T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm ngàn) đồng bà Tđã nộp theo biên lại thu tiền tạm ứng án phí số 0057931 ngày 12/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, bà Tđã nộp đủ án phí.

3-/ Quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên Tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ