vanban.org

Bản án 863/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 23/07/2019 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hải Y - Nguyen Dinh J"
  • Căn cứ chính? Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 863/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 23-7-2019
V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm"phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Cao

Các"Hội"thẩm"nhân"dân:

1. Ông Phạm Văn Hễ

2. Ông Nguyễn Thành Thông

-" Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Thùy – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hoàng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 450/2015/TLST-HNGĐ, ngày 29 tháng 10 năm 2015 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2517/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 4940/2019/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2019, giữa các đương sự:

1."Nguyên"đơn: Bà Nguyễn Thị Hải Y, sinh năm 1981 (vắng mặt)

Địa chỉ: 713/72 đường L, Phường W, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

2."Bị"đơn: Ông Nguyen Dinh J, sinh năm 1979 (vắng mặt)

Quốc tịch: Hoa Kỳ.

Địa chỉ: Garden Grove, CA 92841, USA.

Bà Nguyễn Thị Hải Y đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Trong đơn khởi kiện ngày 19/10/2015 và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Hải Y trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyen Dinh J kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 2547, Quyển số 12 ngày 29/8/2003. Sau khi kết hôn được một tháng thì ông Nguyen Dinh J quay trở về Hoa Kỳ, còn bà vẫn ở Việt Nam chờ ông Nguyen Dinh J làm thủ tục bảo lãnh sang Hoa Kỳ để hai vợ chồng đoàn tụ. Tuy nhiên kể từ tháng 10/2005 đến nay, ông Nguyen Dinh J cắt đứt mọi liên lạc với bà. Bà xác nhận hiện nay hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, hai bên không có khả năng hàn gắn tình cảm nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyen Dinh J.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có.

Vì bận việc, bà đề nghị được vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ án.

Bị đơn là ông Nguyen Dinh J, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ: Tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo ngày, giờ và địa điểm mở phiên họp hòa giải, phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án thông qua thủ tục ủy thác tư pháp đến Cơ quan có thẩm quyền của Hoa Kỳ theo địa chỉ do nguyên đơn cung cấp. Đồng thời, yêu cầu ông Nguyen Dinh J có văn bản gửi Tòa án trình bày ý kiến về việc bà Y khởi kiện yêu cầu ly hôn (theo văn bản ủy thác tư pháp số 50/TTTPHNGD-TA ngày 18/01/2016 và số 303/UTTPDS-TA30 ngày 18/5/2018). Tuy nhiên, Cơ quan có thẩm quyền của Hoa Kỳ đã không thực hiện được ủy thác tư pháp do không có người nhận tại địa chỉ được yêu cầu. Ngày 01/3/2019, Tòa án có Công văn số 778/TAND-CV đề nghị Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại San Francisco, Hoa Kỳ thực hiện thông báo trên cổng thông tin điện tử của Tổng Lãnh sự quán để thông báo ngày, giờ, địa điểm mở phiên họp hòa giải, phiên tòa đối với ông Nguyen Dinh J. Nhưng cho đến nay, ông Nguyen Dinh J vẫn không có văn bản trả lời cho Tòa án.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về vụ án: Về tố tụng, trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo trình tự tố tụng của Bộ luật tố tụng dân sự quy định về địa vị tố tụng và đảm bảo quyền lợi cho các đương sự. Về nội dung, Kiểm sát viên phân tích yêu cầu của nguyên đơn xin ly hôn bị đơn là phù hợp và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Xét yêu cầu của nguyên đơn Nguyễn Thị Hải Y, Hội đồng xét xử nhận thấy bà Y và ông Nguyen Dinh J kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn. Vì vậy căn cứ vào Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đây là hôn nhân hợp pháp, khi một trong các bên có yêu cầu ly hôn, Tòa án xem xét, giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.

Bị đơn là ông Nguyen Dinh J hiện đang cư trú tại Hoa Kỳ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35 và khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về việc xét xử vắng mặt đương sự trong vụ án:

Nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, yêu cầu cung cấp bản khai; thông báo ngày, giờ, địa điểm xét xử nhưng đến thời điểm xét xử Tòa án vẫn không nhận được phản hồi của bị đơn. Vì vậy căn cứ quy định tại Điều 227; Điều 228; khoản 5 Điều 477 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[3] Xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị Hải Y yêu cầu ly hôn ông Nguyen Dinh J, Hội đồng xét xử xét thấy: Qua lời trình bày của bà Y (bà Y cam kết chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời khai của bà) thì thực tế sau khi kết hôn bà Y và ông Nguyen Dinh J chỉ chung sống hạnh phúc trong một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Từ khi kết hôn cho đến nay, bà Y và ông Nguyen Dinh J không có quá trình chung sống lâu dài, do khoảng cách địa lý nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, hai bên chưa có sự gắn kết sâu đậm về tình cảm vợ chồng. Hiện nay bà Y và ông Nguyen Dinh J đang sinh sống ở hai nước khác nhau nên khả năng đoàn tụ không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà Yến yêu cầu ly hôn với ông Nguyen Dinh J là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về con chung, tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung: Bà Nguyễn Thị Hải Y khai không có, Tòa án không xem xét.

[5] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho bà Y được ly hôn với ông Nguyen Dinh J là phù hợp với thực tế nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về án phí hôn nhân sơ thẩm là 200.000 đồng, bà Y chịu.

Vì"các"lẽ"trên,"

QUYẾT!ĐỊNH:!

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 227, Điều 228, khoản 5 Điều 477, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 121 và Điều 127của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27 tháng 02 năm 2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án,

Xử:!

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Hải Y.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hải Y được ly hôn với ông Nguyen Dinh J.

Giấy chứng nhận kết hôn số 2547, Quyển số 12 ngày 29/8/2003 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Nguyễn Thị Hải Y và ông Nguyen Dinh J không còn giá trị pháp lý.

1.2. Về con chung, tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung: Bà Nguyễn Thị Hải Y khai không có, Tòa không xét.

2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm là 200.000 đồng, bà Nguyễn Thị Hải Y chịu và được khấu trừ vào số tiền 200.000 đồng mà bà Y đã đóng tạm ứng án phí theo biên lai thu số AG/2010/09470 ngày 26/10/2015 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Y đã nộp đủ tiền án phí.

3. Bà Nguyễn Thị Hải Y được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án. Ông Nguyen Dinh J được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ