vanban.org

Bản án 862/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà N T T H.

1. Về quan hệ vợ chồng: Bà N T T H được ly hôn với Ông N T H1. 2. Về con chung: Giao cho Bà N T T H trực tiếp nuôi dưỡng hai người con chung tên N T T, sinh ngày 29/6/2009 và N T M, sinh ngày 29/4/2013. Tạm hoãn việc cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho Ông N T H1 vì Bà N T T H không có yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà N T T H.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân số…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 862/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 28/7/2022
V/v tranh chấp: “ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Chi

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lý Ngọc Mạnh

2. Ông Đoàn Văn Rỹ

- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Hồng Đào – là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Sinh – Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sở thẩm công khai vụ án thụ lý số 580/2021/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2021 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 186/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 142/2022/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà N T T H, sinh năm 1984

Thường trú: XXX/YY/AA/CC A D L, Phường B, Quận T, TP M.

Bị đơn: Ông N T H1, sinh năm 1974

Thường trú:XXX/YY/AA/CC A D L, Phường B, Quận T, Tp M.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện đề ngày 11/11/2021 và Bản tự khai ngày 25/01/2022, nguyên đơn là Bà N T T H trình bày:

Bà và Ông N T H1 tự nguyện sống chung và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận số 20/2012, quyển số 01/2012 của Ủy ban nhân dân Phường 02, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà và Ông N T H1 chung sống có hai người con chung tên N T T, sinh ngày 29/6/2009 và N T M, sinh ngày 29/4/2013. Trong thời gian chung sống giữa hai bên xẩy ra mâu thuẩn trầm trọng, nguyên nhân do Ông N T H1 không có trách nhiệm với gia đình, ông hay đi cờ bạc, cá độ về nhà còn đánh đập vợ con, Bà N T T H nhiều lần khuyên can nhưng không được, hiện hai bên đã ly thân từ tháng 12 năm 2021 cho đến nay. Hiện nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên Bà N T T H yêu cầu được ly hôn với Ông N T H1 để ổn định cuộc sống riêng.

- Về con chung: Bà N T T H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai người con chung tên N T T, sinh ngày 29/6/2009 và N T M, sinh ngày 29/4/2013. Bà N T T H không yêu cầu Ông N T H1 cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà N T T H khai bà và Ông N T H1 không có tài sản chung và cũng không có thiếu nợ chung của ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn Ông N T H1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án số 580/2021/TB-TA ngày 28/12/2021; Giấy triệu tập số 580/GTT-TA ngày 29/12/2021 để ghi nhận ý kiến về việc khởi kiện của nguyên đơn; Giấy triệu tập các ngày 16/3/2022, 12/4/2022 về việc tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cùng số 580/TB-TA các ngày 16/3/2022, 12/4/2022; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 580/TB-TA ngày 05/5/2022; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 186/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/6/2022 và giấy triệu tập tham gia phiên tòa; Quyết định hoãn phiên tòa số 142/2022/QĐST-HNGĐ ngày 30/6/2022 và giấy triệu tập tham gia phiên tòa số 142/GTT-TA ngày 30/6/2022, nhưng Ông N T H1 vẫn không nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vắng mặt không lý do trong suốt quá trình tố tụng và tại phiên tòa hôm nay.

Tại phiên toà sơ thẩm,

Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị đơn vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8 phát biểu quan điểm:

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng quy trình tố tụng giải quyết vụ án. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Bà N T T H được ly hôn với Ông N T H1. Về con chung: Giao hai người con chung tên N T T, sinh ngày 29/6/2009 và N T M, sinh ngày 29/4/2013 cho Bà N T T H trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho Ông N T H1 vì Bà N T T H không có yêu cầu. Về tài sản chung và nợ chung Bà N T T H khai không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn là Bà N T T H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với Ông N T H1. Ông N T H1 có đăng ký tạm trú và đang thực tế cư trú tại địa chỉ XXX/YY/AA/CC A D L, Phường B, Quận T, Tp M Do đó, đây là tranh chấp về ly hôn quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa theo khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về tố tụng: Nguyên đơn có đơn đề ngày 30/6/2022 đề nghị được vắng mặt khi Tòa án xét xử vụ án.

Bị đơn là Ông N T H1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 186/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/6/2022 và giấy triệu tập tham gia phiên tòa; Quyết định hoãn phiên tòa số 142/2022/QĐST-HNGĐ ngày 30/6/2022 và giấy triệu tập tham gia phiên tòa số 142/GTT-TA ngày 30/6/2022 nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về yêu cầu của đương sự:

Về quan hệ vợ chồng: Bà N T T H và Ông N T H1 tự nguyện sống chung và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận số 20/2012, quyển số 01/2012, cấp ngày 27/02/2012 của Ủy ban nhân dân Phường 02, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh nên có căn cứ xác định quan hệ hôn nhân giữa Bà H và Ông H1 là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Theo Bà N T T H trình bày thì trong thời gian chung sống giữa bà và Ông N T H1 thường xuyên xẩy ra mâu thuẩn trầm trọng, nguyên nhân do Ông N T H1 không có trách nhiệm với gia đình, ông hay đi cờ bạc, cá độ về nhà còn đánh đập vợ con, Bà N T T H nhiều lần khuyên can nhưng không được, hiện hai bên đã ly thân từ tháng 12 năm 2021 cho đến nay. Hiện nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên Bà N T T H yêu cầu được ly hôn với Ông N T H1 để ổn định cuộc sống riêng.

Ngày 16/3/2022 Toà án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh có ban hành quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ số 580/2022/QĐ-CCTLCC gửi Uỷ ban nhân dân Phường 3, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh về việc xác minh thông tin về hoàn cảnh gia đình, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, điều kiện trực tiếp nuôi con giữa Bà H và Ông H1. Ngày 25/5/2022 Uỷ ban nhân dân Phường 3, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh có công văn phúc đáp với nội dung: « Thông tin về hoàn cảnh gia đình, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, điều kiện trực tiếp nuôi con giữa Bà H và Ông H1 Uỷ ban nhân dân Phường 3, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh không nắm rõ”.

Như vậy, từ thời điểm Bà N T T H nộp đơn ly hôn đến nay, Bà H và Ông H1 không có khả năng hàn gắn, vợ chồng mỗi người sống một nơi, không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Bà N T T H cũng đã cho Ông H1 cơ hội sửa đổi nhưng Ông H1 cũng không sửa đổi để hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Xét thấy cuộc sống vợ chồng không đem lại hạnh phúc cho Bà N T T H, mục đích hôn nhân không đạt được, Ông N T H1 không đến Toà án để trình bày ý kiến và hoà giải chứng tỏ Ông H1 cũng không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này. Vợ chồng không có sự quan tâm, chia sẻ, gắn bó với nhau, do đó chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho Bà N T T H được ly hôn với Ông N T H1.

Về con chung: Xét thấy, hai người con chung tên N T T, sinh ngày 29/6/2009 và N T M, sinh ngày 29/4/2013 có nguyện vọng được sống cùng mẹ đồng thời Bà N T T H cũng có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai người con và không yêu cầu Ông N T H1 cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Ông N T H1 vắng mặt không rõ ý kiến gì về con chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Bà H, giao cho Bà H trực tiếp nuôi dưỡng hai người con chung tên N T T, sinh ngày 29/6/2009 và N T M, sinh ngày 29/4/2013. Ghi nhận việc Bà H không yêu cầu Ông H1 cấp dưỡng tiền nuôi con.

Về tài sản chung: Bà N T T H xác định vợ chồng không có tài sản chung. Ông N T H1 vắng mặt không có ý kiến về vấn đề tài sản chung. Do vậy, Toà không xem xét, giải quyết phần tài sản chung.

Về nợ chung và thực hiện nghĩa vụ dân sự chung: Bà N T T H cam kết vợ chồng không có khoản nợ nào chung và cũng không thực hiện nghĩa vụ dân sự với ai, Ông N T H1 vắng mặt, không có ý kiến nên Tòa không xem xét.

Về án phí: Bà N T T H chịu án phí giải quyết vụ án hôn nhân.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147,điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Luật phí và lệ phí số 87/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà N T T H.

1.1. Về quan hệ vợ chồng: Bà N T T H được ly hôn với Ông N T H1.

1.2. Về con chung: Giao cho Bà N T T H trực tiếp nuôi dưỡng hai người con chung tên N T T, sinh ngày 29/6/2009 và N T M, sinh ngày 29/4/2013. Tạm hoãn việc cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho Ông N T H1 vì Bà N T T H không có yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng quyền thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật

1.3. Về tài sản chung: Bà N T T H xác định vợ chồng không có tài sản chung, Ông N T H1 vắng mặt không có ý kiến về vấn đề tài sản chung. Do vậy, Toà án không xem xét, giải quyết phần tài sản chung.

1.4. Về nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Bà N T T H cam kết vợ chồng không có khoản nợ nào chung và cũng không thực hiện nghĩa vụ dân sự với ai, Ông N T H1 vắng mặt, không có ý kiến nên Tòa không xem xét giải quyết phần nợ chung.

1.5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Bà N T T H chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí Bà N T T H đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số AA/2021/0016179 ngày 22/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Về quyền kháng cáo:

Bà N T T H và Ông N T H1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ