vanban.org

Bản án 862/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Hải V.

1 Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Đặng Hải V và bà Trần Thị K. 2 Về việc nuôi con chung: Giao 02 con chung tên Đặng P, sinh ngày 09/11/2015, Đặng D, sinh ngày 24/9/2018 cho ông Đặng Hải V trực tiếp nuôi dưỡng. Ông V không yêu cầu bà Trần Thị K cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Hải V.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THẠNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 862/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 25-5-2022
V/v: Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ái Long

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lâm Thị Hoàng Oanh;

2. Bà Nguyễn Thanh Phước.

Thư ký phiên tòa: Bà Võ Hải An, là Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 2078/2020/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2020, về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/4/2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Đặng Hải V (Có đơn đề nghị vắng mặt)

Địa chỉ: Bình Quới, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Bà Trần Thị K (Vắng mặt)

Địa chỉ: Bình Quới, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 02/12/2020, bản tự khai và các và các biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, nguyên đơn là ông Đăng Hải V trình bày:

Năm 2014, ông và bà Trần Thị K tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A quận B, Thành phố Hồ Chí Minh và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 16/2014, quyển số 01/2014 ngày 04/4/2014. Sau khi kết hôn ông bà chung sống tại địa chỉ: Bình Quới, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian đầu, ông và bà K chung sống hạnh phúc về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính tình thay đổi, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã. Bản thân ông Vinh đã cố gắng hàn gắn vì các con nhưng không kết quả. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu được ly hôn với bà Trần Thị K.

Trong quá trình chung sống, ông và bà K có hai con chung tên Đặng P, sinh ngày 09/11/2015, Đặng D, sinh ngày 24/9/2018. Ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu bà Trần Thị K cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Ông V khai ông và bà K không có tài sản chung.

Về nợ chung: Ông V và bà K tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn bà Trần Thị K đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ đến Tòa án để trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng bà K vắng mặt không lý do, không gửi cho Tòa án tài liệu, chứng cứ hay văn bản trình bày ý kiến nên không ghi nhận được ý kiến của bà K.

* Đ i diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Th nh phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:

* Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán:

Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm này thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Cụ thể: Thẩm phán xác định, đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án, xác định vụ kiện thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa; Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho đương sự và Viện kiểm sát thực hiện theo đúng quy định từ Điều 170 đến Điều 181 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ đúng theo quy định tại Điều 209, 210, 211 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên Thẩm phán còn vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

* Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:

Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng quy định tại Điều 51 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

* Về việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng:

Đối với nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Đối với bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay bị đơn không thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí ly hôn: Nguyên đơn phải chịu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Tòa án nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Quan hệ tranh chấp giữa ông Đặng Hải V và bà Trần Thị K là quan hệ hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Theo kết quả cung cấp chứng cứ của Công an Phường A, quận B: Bị đơn bà Trần Thị K có đăng ký thường trú tại địa chỉ: Bình Quới, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.

Về thủ tục tố tụng:

Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ bị đơn bà Trần Thị K tham gia phiên tòa sơ thẩm xét xử lần thứ nhất vào ngày 28/4/2022 và lần thứ hai vào ngày 25/5/2022 nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn bà Trần Thị K.

Nguyên đơn ông Đặng Hải V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ban đầu nên căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn.

Về nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 16/2014, quyển số 01/2014 do Ủy ban nhân dân Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày ngày 04/4/2014 thể hiện hôn nhân giữa ông Đặng Hải V và bà Trần Thị K là hợp pháp.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhằm xây dựng gia đình hạnh phúc. Tuy nhiên, theo lời khai của ông Vinh, thời gian đầu chung sống ông và bà K sống hạnh phúc, sau đó vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính tình thay đổi, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã. Đến nay, ông V và bà K đã không còn sống chung với nhau. Trong suốt quá trình tố tụng, ông V xác định không còn tình cảm với bà K.

Tại Công văn số 133/UBND ngày 29/3/2021 của Ủy ban nhân dân Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh: Hiện nay bà Trần Thị K và ông V không còn chung sống tại địa chỉ: Bình Quới, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Cho thấy hôn nhân giữa ông V và bà K đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, vì vậy ông V có nguyện vọng xin được ly hôn với bà K là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Căn cứ vào bản sao Giấy khai sinh và kết quả trả lời xác minh ngày 29/3/2021 của Ủy ban nhân dân Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh thì: Ông Đặng Hải V và bà Trần Thị K có 02 con chung Đặng P, sinh ngày 09/11/2015, Đặng D, sinh ngày 24/9/2018. Hiện 02 trẻ do ông Đặng Hải V đang trực tiếp nuôi dưỡng.

Ông Đặng Hải V yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 trẻ Đặng P, sinh ngày 09/11/2015, Đặng D, sinh ngày 24/9/2018, ông V không yêu cầu bà K cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung của ông V là chính đáng, phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình nên có cơ sở chấp nhận.

Về tài sản chung: Ông Đặng Hải V khai ông và bà K không có tài sản chung.

Về nợ chung: Ông Đặng Hải V khai ông và bà Trần Thị K tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng ông Đặng Hải V phải nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 48, khoản 2 Điều 227, các Điều 227, Điều 235, Điều 266, Điều 267, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Luật phí và lệ phí;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Hải V.

1.1 Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Đặng Hải V và bà Trần Thị K.

1.2 Về việc nuôi con chung: Giao 02 con chung tên Đặng P, sinh ngày 09/11/2015, Đặng D, sinh ngày 24/9/2018 cho ông Đặng Hải V trực tiếp nuôi dưỡng. Ông V không yêu cầu bà Trần Thị K cấp dưỡng nuôi con.

Bà Trần Thị K được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi có lý do chính đáng, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn.

1.3 Về tài sản chung: Ông V khai ông và bà K không có tài sản chung.

Về nợ chung: Ông V khai ông và bà Trần Thị K tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng ông Đặng Hải V phải chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm mà ông V đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu số AA/2019/0088873 ngày 14/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh. Ông V đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo:

Ông Đặng Hải V và bà Trần Thị K được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ