vanban.org

Bản án 86/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 110, 116, 118 Luật Hôn nhân gia đình, Điều 147, 227, 235, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án…

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ông Trịnh Hoàng Đđối với bà Nguyễn Thị Hoàng T1về việc "Ly hôn và tranh chấp nuôi dưỡng con chung". Tuyên xử: ZTE280726.TL.QDBA.2002 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trịnh Hoàng Đ - Nguyễn Thị Hoài T - ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Căn các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 110, 116, 118 Luật Hôn nhân gia đình, Điều 147, 227, 235, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án…
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2026/HNGĐ-ST.
Ngày: 28/7/2026.
V/v: Ly hôn và tranh chấp nuôi dưỡng
con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Phú Đạt.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Chinh.

Ông Ngô Văn Khanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Thanh Dung – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 4 - Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 195/2026/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 4 năm 2026 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi dưỡng con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1023/2026/QĐXXST- HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 1025/2026/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 6 năm 2025; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trịnh Hoàng Đ, sinh năm 1996, CCCD số: xxxxxxxxxxxx; Địa chỉ: 1 T, phường H, tỉnh Thanh Hóa;địa chỉ liên hệ: B L, phường H, thành phố Đà Nẵng. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Bà Lý Thị O – Luật sư của Công ty L2và cộng sự; địa chỉ: B L, phường H, thành phố Đà Nẵng.Có đơn xin xét xử vắng mặt

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hoài T, sinh năm: 1992, CCCD số: xxxxxxxxxxxx; Địa chỉ: Căn hộ B, tầng B, Tòa nhà B Khu C, phường L, thành phố Đà Nẵng.Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng nguyên đơn ông Trịnh Hoàng Đ trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và bà Nguyễn Thị Hoài Tkết hôn vào năm 2018 trên cơ sở tự nguyện đã đăng ký kết hôn tại UBND phường H,quận H, thành phố Đà Nẵng.Quá trình sống chung vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do có sự khác biệt về quan điểm sống, giá trị gia đình và cá nhân. Tình cảm mất dần sự hòa hợp, tình yêu và sự tôn trọng lẫn nhau đã trở nên mờ nhạt và không còn được như ZTE280726.TL.QDBA.2002 trước. Cuộc sống vợ chồng trở nên ngột ngạt, không còn niềm vui và đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Nay, tôi nhận thấy rằng mâu thuẫn giữa vợ chồng thật sự trầm trọng, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bà Nguyễn Thị Hoài H.

- Về quan hệ con chung: Vợ chồng chúng tôi có 01 con chung là: Trịnh Hoàng Bảo L,sinh ngày 07/11/2019. Trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn, tôi có nguyện vọng giao con chung cho bà Ttrực tiếp nuôi dưỡng và đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 5.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung và nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tòa án đã triệu tập và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn bà Nguyễn Thị Hoàng T1nhưng bà T1không đến làm việc nên không có lời khai trong hồ sơ vụ án.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Đà Nẵng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã chấp hành đúng những quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng bị đơn vi phạm các nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

* Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Đà Nẵng đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trịnh Hoàng Đ.Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình. Tuyên xử: Cho ông Trịnh Hoàng Đđược ly hôn bà Nguyễn Thị Hoài T. Về con chung: Đề nghị HĐXX giao con chung Trịnh Hoàng Bảo L,sinh ngày 07/11/2019 cho bà Ttrực tiếp nuôi dưỡng, ông Đcó nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 5.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Về án phí HNGĐST: Ông Trịnh Hoàng Đphải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn ông Trịnh Hoàng Đ khởi kiện bà Nguyễn Thị Hoài Tvề việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi dưỡng con chung”, bị đơn có địa chỉ nơi cư trú tại Căn hộ B, tầng B, Tòa nhà B Khu C, phường L, thành phố Đà Nẵng. Vì vậy, tranh chấp về hôn nhân gia đình này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 4 theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, bị đơn bà Nguyễn Thị Hoài Tđã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ 2 không có lý do, HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà T.

[2] Về nội dung vụ án: ZTE280726.TL.QDBA.2002

Về quan hệ hôn nhân: Bà Tvà ông Đkết hôn vào năm 2018 có đăng ký kết hôn tại UBND phường H,quận H, thành phố Đà Nẵng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện phù hợp với quy định pháp luật nên được công nhận và bảo vệ. Ông Đxác định nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không còn yêu thương nhau và hiện nay đã sống ly thân. HĐXX xét thấy: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ và tống đạt các văn bản tố tụng để bà T thể hiện ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tham gia các phiên hòa giải và phiên tòa nhưng bà Tkhông đến làm việc. Điều này thể hiện bà Tkhông có nguyện vọng hòa giải đoàn tụ. Tiến hành xác minh nguyên nhân mâu thuẫn tại địa phương kết quả thể hiện: “Bà thương và cháu Trịnh Hoàng Bảo L1đang sinh sống tại Căn hộ B, tầng B, Tòa nhà B Khu C.Nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng thì địa phương không nắm. Tuy nhiên, ông Trịnh Hoàng Đthường xuyên đi làm ăn xa và về nhà một năm khoảng từ 1-2 lần”. Như vậy có đủ cơ sở để khẳng định hiện nay bà Tvà ông Đđã sống ly thân và mẫu thuẫn giữa vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích cuộc hôn nhân không đạt được. Vì vậy, HĐXX chấp nhận yêu cầu xin được ly hôn của ông Trịnh Hoàng Đđối với bà Nguyễn Thị Hoài T.

Về con chung: Ông Trịnh Hoàng Đxác định vợ chồng có 01 con chung là: Trịnh Hoàng Bảo L,sinh ngày 07/11/2019. Ông Đcó nguyện vọng giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng và đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 5.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. HĐXX thấy rằng: Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ với con chung được pháp luật đảm bảo là ngang nhau và vì sự phát triển toàn diện của con chung. Cháu Trịnh Hoàng Bảo Lhiện nay đang sinh sống trực tiếp với bà T,ông Đthường xuyên vắng nhà và cháu Llà nữ giới nên cần sự quan tâm, giáo dục và chăm sóc nhiều hơn từ phía người mẹ. Do đó, để đảm bảo sự ổn định về môi trường sống và học tập của cháu Lcần thiết tiếp tục giao con chung cho bà Ttrực tiếp nuôi dưỡng và ghi nhận mức cấp dưỡng 5.000.000 đồng/tháng của ông Đlà phù hợp.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông Trịnh Hoàng Đkhông yêu cầu giải quyết nên HĐXX không đề cập.

Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con chung, ông Trịnh Hoàng Đphải chịu theo quy định của pháp luật.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 110, 116, 118 Luật Hôn nhân gia đình, Điều 147, 227, 235, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ông Trịnh Hoàng Đđối với bà Nguyễn Thị Hoàng T1về việc "Ly hôn và tranh chấp nuôi dưỡng con chung".

Tuyên xử: ZTE280726.TL.QDBA.2002

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Trịnh Hoàng Đđược ly hôn với bà Nguyễn Thị Hoài T.

2. Về quan hệ con chung: Giao con chung là Trịnh Hoàng Bảo L,sinh ngày 07/11/2019 cho bà Nguyễn Thị Hoàng T1trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Ông Trịnh Hoàng Đcó nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 5.000.000 đồng cho đến khi cháu Trịnh Hoàng Bảo Lđủ 18 tuổi.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Ông Trịnh Hoàng Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Án phí HNGĐ-ST là: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) ông Trịnh Hoàng Đ phải chịu theo quy định của pháp luật nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003322 ngày 06/4/2026 tại Phòng Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng. Buộc ông Trịnh Hoàng Đtiếp tục nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con chung.

5. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ