vanban.org

Bản án 86/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Minh Đ và đồng phạm phạm tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 13…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 17 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2025/HS-ST
Ngày 30-9-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thanh Cần;

2. Ông Huỳnh Sơn Tây.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Nam - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phan Tấn Thành - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 29 và 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 160/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2025/HSST-QĐ ngày 23 tháng 7 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 13/2025/HSST-QĐ ngày 12 tháng 8 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 24/2025/HSST-QĐ ngày 09 tháng 9 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Đặng Minh Đ, sinh năm 2004 tại Bạc Liêu (nay là tỉnh Cà Mau); căn cước công dân số: N; nơi cư trú: Ấp T, xã Vĩnh Ph, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Hoàng Kh, sinh năm 1978 và bà Thái Mỹ T sinh năm 1981; chưa có vợ, con. Tiền sự, tiền án: Không.

Ngày 17/4/2022, cùng đồng phạm thực hiện hành vi cố ý gây thương tích, ngày 19/12/2022 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã U (nay là Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh) đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 19/12/2022 đến ngày 22/12/2022 khởi tố bị can và chuyển sang tạm giam cho đến nay; có mặt.

2. Hoàng Hữu H, sinh năm 1998 tại Bình Thuận (nay là tỉnh Lâm Đồng); căn cước công dân số: N; nơi cư trú: Thôn B, xã Nam Th, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Kim Th (đã chết) và bà Trần Thị Ch, sinh năm 1979; vợ tên Nguyễn Thị Thúy M, sinh năm 1997 và có 01 người con sinh năm 2021. Tiền sự, tiền án: Không.

Ngày 17/4/2022, cùng đồng phạm thực hiện hành vi cố ý gây thương tích, ngày 23/3/2023 bị khởi tố bị can và Lệnh bắt bị can để tạm giam, bị bắt tạm giam từ ngày 27/3/2023 đến ngày 26/9/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh đến ngày 09/9/2025 bắt tạm giam cho đến nay; có mặt.

3. Hoàng Xuân Tr, sinh năm 2004 tại Bình Thuận (nay là tỉnh Lâm Đồng); căn cước công dân số: N; nơi cư trú: Thôn B, xã Nam Th, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Kim Th (đã chết) và bà Trần Thị Ch, sinh năm 1979; chưa có vợ con. Tiền sự, tiền án: Không.

Ngày 17/4/2022, cùng đồng phạm thực hiện hành vi cố ý gây thương tích, ngày 27/3/2023 đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã U (nay là Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh) đầu thú, tạm giữ từ ngày 27/3/2023 đến ngày 30/3/2023 bị khởi tố bị can và chuyển sang tạm giam, đến ngày 26/9/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh, đến ngày 09/9/2025 bắt tạm giam cho đến nay; có mặt.

4. Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1990 tại Hà Tĩnh; căn cước công dân số: N; nơi cư trú: Thôn V, xã Cẩm H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1951 và bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1979; vợ tên Nguyễn Thị Ph, sinh năm 1989; có 01 người con sinh năm 2013. Tiền sự, tiền án: Không.

Ngày 17/4/2022, cùng đồng phạm thực hiện hành vi cố ý gây thương tích, ngày 31/10/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố U (nay là Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh) khởi tố bị can và áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, ngày 09/9/2025 bị bắt tạm giam cho đến nay; có mặt.

5. Nguyễn Hoàng Tr, sinh năm 2002 tại Cà Mau; căn cước công dân số: N; nơi cư trú: Ấp T, xã Tân Th, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1980 và bà Trương Thị Thu Th, sinh năm 1981; chưa có vợ, con. Tiền sự, tiền án: Không.

Ngày 17/4/2022, cùng đồng phạm thực hiện hành vi cố ý gây thương tích, ngày 31/10/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố U (nay là Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh) khởi tố bị can và áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, ngày 25/9/2025 bị bắt tạm giam cho đến nay; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Bùi Văn T; căn cước công dân số: N - Luật sư Văn phòng luật sư Kỳ T thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.

Bị hại:

- Ông Cao Tuấn Kh, sinh năm 1994; căn cước công dân số: N; nơi cư trú: Ấp R, xã Lương Thế Tr, tỉnh Cà Mau; tạm trú: Khu phố Bà Tr, phường Tân H, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt xét xử ngày 29/9/2025, vắng mặt xét xử ngày 30/9/2025.

- Ông Lý Hoàng T, sinh năm 1993; căn cước công dân số: N; nơi cư trú: Ấp B, xã Lâm T, Thành phố Cần Thơ; nơi ở hiện nay: Đường Khánh Bình M, tổ M, khu phố Khánh L, phường Tân H, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt xét xử ngày 29/9/2025, vắng mặt xét xử ngày 30/9/2025.

- Ông Lâm Tuấn K, sinh năm 1978; căn cước công dân số: N; nơi cư trú: Ấp H, xã Chợ M, tỉnh An Giang; có mặt xét xử ngày 29/9/2025, vắng mặt xét xử ngày 30/9/2025.

Bị đơn dân sự: Công ty TNHH Karaoke Lộc Ph; địa chỉ: Thửa đất số B, tờ bản đồ số B, đường ĐT B, phường Tân H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp: Ông Hoàng Văn C; căn cước công dân số: N; chức danh: Giám đốc; là người đại diện theo pháp luật; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Liêu Q, sinh năm 1990; nơi cư trú: Khóm N, phường Sóc Tr, Thành phố Cần Thơ; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Hữu H và Hoàng Xuân Tr có mối quan hệ anh em với nhau, Đặng Minh Đ, Nguyễn Tuấn A, Trần Đức T và Nguyễn Hoàng Tr, đối tượng tên Th và tên Tr (không rõ lai lịch) cùng là nhân viên phục vụ của quán Karaoke Khánh B thuộc khu phố Long B, phường Khánh B, thành phố U, tỉnh Bình Dương (nay là phường Tân H, Thành phố Hồ Chí Minh).

Lý Hoàng T, Cao Tuấn Kh, Lâm Tuấn K, Liêu Q có mối quan hệ quen biết nhau. Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 17/4/2022, T, Kh, K và Q cùng đến quán Karaoke Khánh B để hát karaoke. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày thì cả nhóm tính tiền đi về. Khi tính tiền tại quán thì giữa K và H xảy ra mâu thuẫn về việc K cho tiền nhân viên nữ phục vụ trong lúc hát karaoke. Sau đó, nhóm Kh, T, K dùng tay, nón bảo hiểm đánh H tại quầy thu ngân thì H dùng tay đánh lại. Lúc này Đ, Tr thấy H đánh nhau với nhóm của K nên Đ, Tr xông đến dùng tay đánh K cùng nhóm của Kh, T và K, sau đó Đ chạy vào kho lấy một con dao bằng kim loại dài khoảng 30cm cầm trên tay phải chém 02 cái trúng vào tay phải của T gây thương tích. Khi thấy Đ cầm dao, T vào bên trong nhà kho cầm ống tuýp sắt cùng với Tr đuổi đánh nên T, Kh, Q cùng bỏ chạy ra ngoài thì Tr, Đ, T chạy theo đánh. Tr dùng tay đánh 03 cái trúng vào vùng mặt của T, tiếp đến Đ dùng dao chém một cái trúng vào tay trái của Kh gây thương tích còn H dùng tay đánh K. Khi thấy H đánh K, Th cầm chày đâm tiêu đánh K nhưng K dùng tay đỡ, Tr cũng chạy đến dùng chân đạp 01 cái vào mông của K, Tr chạy đến cầm ghế xông vào nhưng chưa đánh được. Lúc này, Tr, Đ, T đuổi đánh T, Kh, Q không kịp nên quay lại tiếp tục cùng với H, A đánh K. Khi K đang nằm dưới sàn nhà thì Tr dùng tay, chân đánh K, T, H dùng ống tuýp sắt đánh K. Sau đó, K đứng dậy thì A chạy đến dùng tay phải đánh 01 cái vào mặt của K thì K bỏ đi ra ngoài, Tr vào trong kho tiếp tục lấy 03 ống tuýp sắt để đánh K lúc đó A xô K ngã xuống sàn nhà rồi bỏ đi vào trong quán karaoke. K, T và Kh đến Công an phường Khánh B trình báo việc gây thương tích và làm đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự yêu cầu giám định thương tích, T và Kh đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương điều trị thương tích. Công an phường Khánh B tiến hành mời Trần Đức T, Hoàng Hữu H và Nguyễn Hoàng Tr đến làm việc, riêng Đ, Tr bỏ trốn. Ngày 18/4/2022, Kh và T làm đơn yêu cầu giám định thương tích.

Công an phường Khánh B (nay là Công an phường Tân H) lập hồ sơ ban đầu và bàn giao hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã U (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh) thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã U (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh), tiến hành khám nghiệm hiện trường thu giữ vật chứng gồm: 04 cây lau nhà; 02 nón bảo hiểm, đồng thời tạm giữ đồ vật tài liệu liên quan gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu nâu đen (do Trần Đức T giao nộp); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh đen (do Nguyễn Hoàng Tr giao nộp); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng (do Nguyễn Tuấn A giao nộp); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 màu trắng đen (do Hoàng Hữu H giao nộp).

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 443/2022/GĐPY ngày 20/6/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Dương kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên cho Lâm Tuấn K là 0%.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 447/2022/GĐPY ngày 21/6/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Dương kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên cho Lý Hoàng T là 17%.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 445/2022/GĐPY ngày 21/6/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Dương kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên cho Cao Tuấn Kh là 03%.

Đối với 01 con dao Đặng Minh Đ dùng để gây thương tích cho bị hại. Sau khi gây thương tích Đ đưa cho Trần Đức T cất giữ, hiện không rõ dao ở đâu do chưa làm việc được với Trần Đức T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố U đã tiến hành truy tìm thu giữ vật chứng nhưng không thành.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra các bị hại yêu cầu bồi thường chi phí điều trị thương tích cụ thể như sau: Cao Tuấn Kh yêu cầu bồi thường số tiền 38.819.955 đồng; Lý Hoàng T yêu cầu bồi thường số tiến 18.160.000 đồng; Lâm Tuấn K yêu cầu bồi thường số tiền 3.035.275 đồng.

Bản Cáo trạng số 59/CT-VKSTU ngày 24/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố U, tỉnh Bình Dương (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực M - Thành phố Hồ Chí Minh) đã truy tố các bị cáo Đặng Minh Đ, Hoàng Hữu H, Hoàng Xuân Tr, Nguyễn Tuấn A và Nguyễn Hoàng Tr về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực M - Thành phố Hồ Chí Minh giữ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

+ Về trách nhiệm hình sự:

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Minh Đ từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Xuân Tr từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Hữu H từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Tr từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Lâm Tuấn K, ông Lý Hoàng T đã được ông Hoàng Văn C thanh toán viện phí không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Bị hại ông Cao Tuấn Kh cũng đã được ông Hoàng Văn C bồi thường, tại phiên tòa bị hại ông Kh yêu cầu các bị cáo bồi thường thêm số tiền 11.000.000 đồng, các bị cáo nhờ ông C bồi thường, ông C thống nhất đồng ý bồi thường cho ông Kh số tiền 10.000.000 đồng, ông Kh đã nhận số tiền 10.000.000 đồng, không yêu cầu bồi thường thêm khoản nào khác nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

Tịch thu tiêu hủy: 04 cây lau nhà (bị gãy) và 02 nón bảo hiểm;

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hoàng Tr 01 điện thoại di động Realme màu xanh đen;

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tuấn A 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax màu vàng;

Trả lại cho bị cáo Hoàng Hữu H 01 điện thoại di động Iphone 13 màu trắng đen.

Giao chi Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục tạm giữ 01 điện thoại di động Samsung màu đen của Trần Đức T.

Đối với hành vi Cố ý gây thương tích của bị can Trần Đức T. Kết quả điều tra đến nay không xác định được T đang làm gì ở đâu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố U ra Quyết định tách vụ án hình sự, Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự, Quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can, Quyết định truy nã bị can Trần Đức T.

Đối với đối tượng tên Th và Tr (không rõ lai lịch), kết quả điều tra đến nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố U, tỉnh Bình Dương (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh) chưa có căn cứ để xử lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ và xử lý sau.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng Tr thống nhất về tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo Tr xuất thân trong một gia đình lao động nghèo, có nơi cư trú rõ ràng, có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, phạm tội lần đầu nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 của Bộ Luật Hình sự xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để phụ giúp cha mẹ.

Các bị cáo Đặng Minh Đ, Hoàng Hữu H, Hoàng Xuân Tr, Nguyễn Tuấn A và Nguyễn Hoàng Tr khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng, không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo cơ hội sửa chữa lỗi lầm để sớm trở về với gia đình và trở thành công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã U, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã U (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực M - Thành phố Hồ Chí Minh), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Liêu Q vắng mặt. Quá trình điều tra, lời khai của họ không mâu thuẫn với lời khai của các bị cáo và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo, bị hại, bị đơn dân sự và người bào chữa cho bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Xét thấy, việc vắng mặt của người tham gia tố tụng trên không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng trên.

[3] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án như vật chứng thu giữ, lời khai của các bị hại. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận:

Ngày 17 tháng 4 năm 2022, tại quán Karaoke Khánh B thuộc khu phố Long B, phường Khánh B, thị xã U, tỉnh Bình Dương (nay là khu phố Long B, phường Tân H, Thành phố Hồ Chí Minh); bị cáo Đặng Minh Đ, Hoàng Hữu H, Hoàng Xuân Tr, Nguyễn Hoàng Tr, Nguyễn Tuấn A và Trần Đức T có hành vi dùng dao, thanh kim loại (là hung khí nguy hiểm) chém 01 cái vào mặt sau cẳng tay trái của Cao Tuấn Kh gây thương tích với tỷ lệ 03%; chém 02 cái vào mặt trong cổ tay phải của Lý Hoàng T gây thương tích với tỷ lệ 17%. Do đó, hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

[4] Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố U (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực M - Thành phố Hồ Chí Minh) truy tố các bị cáo với tội danh và khung hình phạt như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[5] Hành vi của các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc xâm phạm đến sức khỏe của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì coi thường pháp luật và sức khỏe của người khác nên cố ý thực hiện. Do đó, cần có một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi tội phạm các bị cáo gây ra nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn diện về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.

[6] Về đồng phạm: Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn. Nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát từ bị cáo H, bị cáo có thái độ không tôn trọng khách, có hành vi nhổ nước bọt trước bị hại Lâm Tuấn K nên xảy ra đánh nhau. Trong đó, bị cáo Đ là người gây thương tích cho bị hại Cao Tuấn Kh và Lý Hoàng T, các bị cáo Nguyễn Tuấn A và Hoàng Xuân Tr cùng tham gia đánh các bị hại, bị cáo Nguyễn Hoàng Tr không mâu thuẫn với bị hại nhưng tham gia thực hiện hành vi phạm tội với vai trò là người giúp sức tích cực. Do đó, khi quyết định hình phạt sẽ xem xét toàn diện về vai trò, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.

[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sự việc xảy ra cũng có một phần lỗi của bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Đ, H, Tr, A và Tr đã tác động ông Hoàng Văn C bồi thường cho các bị hại nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước mà yên tâm cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.

[9] Xét thấy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp. Tuy nhiên, như đã phân tích sự việc xảy ra cũng có lỗi của bị hại, bị cáo Tr là em ruột của bị cáo H nên Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo Hoàng Xuân Tr, Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Hoàng Tr mức hình phạt nhẹ hơn đề nghị của Viện kiểm sát cũng phù hợp với hành vi phạm tội của các bị cáo.

[10] Hành vi đánh nhau được thực hiện trong khuôn viên quán Karaoke Khánh B, được ngăn cách bởi tường nhà dân, thời gian xảy ra khoảng 5 đến 10 phút, quán vắng người. Tuy nhiên, nhóm bị hại cũng có lỗi nên việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố U không xử phạt hành chính là thiếu sót.

[11] Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Tr, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo, xét thấy, khi mâu thuẫn bị cáo không có mặt nhưng khi thấy nhóm bị cáo đánh nhau với nhóm bị hại (khách) bị cáo không can ngăn mà cầm ghế gỗ xông vào tìm chỗ đánh, lý do bị cáo chưa đánh được là do nhóm bị cáo đông, bị cáo đánh sợ trúng nhóm bị cáo, sau đó bị cáo còn vào kho lấy ống tuýp sắt ra để đánh nhóm bị hại (Bút lục 462, 463), bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức tích cực. Đối với vụ án bị cáo Tr được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có người bào chữa nhưng xét xử bị cáo vắng mặt không có lý do thể hiện thái độ xem thường pháp luật nên người bào chữa đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo là không có căn chấp nhận.

[12] Về trách nhiệm dân sự: Ông Hoàng Văn C là người đại diện hợp pháp của bị đơn dân sự Công ty TNHH Karaoke Lộc Ph đã bồi thường cho các bị hại, các bị hại không có yêu cầu, không yêu cầu bồi thường thêm khoản nào khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[13] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

Đối với 04 cây chổi lau nhà và 02 nón bảo hiểm không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với các điện thoại di động thu giữ của các bị cáo không liên quan đến vụ án nên trả lại cho các bị cáo.

Tiếp tục tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung của Trần Đức T để xử lý sau.

[14] Đối với ông Hoàng Văn C là người đại diện hợp pháp của bị đơn dân sự đã bồi thường cho các bị hại, ông C không yêu cầu các bị cáo phải trả lại nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[15] Đối với hành vi Cố ý gây thương tích của bị can Trần Đức T. Kết quả điều tra đến nay không xác định được T đang làm gì ở đâu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố U ra Quyết định tách vụ án hình sự, Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự, Quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can, Quyết định truy nã bị can Trần Đức T, khi bắt được xử lý sau.

[16] Đối với đối tượng tên Th và Tr (không rõ lai lịch), kết quả điều tra đến nay chưa xác định được lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa có căn cứ để xử lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ và xử lý sau.

[17] Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Đặng Minh Đ, Hoàng Hữu H, Hoàng Xuân Tr, Nguyễn Tuấn A và Nguyễn Hoàng Tr phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

1. Về trách nhiệm hình sự:

- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Đặng Minh Đ 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/12/2022.

- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Hoàng Hữu H 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/9/2025, được khấu trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/3/2023 đến ngày 26/9/2024.

- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Hoàng Xuân Tr 02 (Hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/9/2025, được khấu trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/3/2023 đến ngày 26/9/2024.

- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A 02 (Hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/9/2025.

- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Tr 02 (Hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/9/2025.

2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 04 cây lau nhà (bị gãy) và 02 nón bảo hiểm;

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hoàng Tr 01 điện thoại di động Realme màu xanh đen;

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tuấn A 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax màu vàng;

Trả lại cho bị cáo Hoàng Hữu H 01 điện thoại di động Iphone 13 màu trắng đen.

Giao chi Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục tạm giữ 01 điện thoại di động Samsung màu nâu đen của Trần Đức T.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 21/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố U, tỉnh Bình Dương (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực M - Thành phố Hồ Chí Minh)).

3. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc mỗi bị cáo Đặng Minh Đ, Hoàng Hữu H, Hoàng Xuân Tr, Nguyễn Tuấn A và Nguyễn Hoàng Tr phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; bị hại; bị đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nếu vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết công khai./.

Cỡ chữ