- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "nguyên đơn Công ty T1 (Việt Nam) kiện bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng C về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”:"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T1 (Việt Nam) với bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng C về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”:
- Căn cứ chính? Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 116 Bộ luật Dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 86/2025/DS-ST Ngày 29/4/2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Cường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Trung Nam
Ông Trịnh Văn Đăng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hằng, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 663/2024/TLST–DS ngày 02 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2025/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 75/2025/QĐST-DS ngày 04 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty T1 (Việt Nam).
Địa chỉ: Số I, đường P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lee Yun H1 – Chức vụ: Tổng giám đốc.
Ủy quyền khởi kiện cho: Ông Trần La Ngọc H2 - Chức vụ: Trưởng phòng tố tụng Công ty T1.
Uỷ quyền tham gia tố tụng cho: Công ty L; Địa chỉ: Số B, đường L, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Cồ Lê H3
- Chức vụ: Giám đốc.
Ủy quyền lại cho: Ông Nguyễn Đức T - Nhân viên (Vắng mặt - Có đơn xin vắng mặt).
(Theo Giấy ủy quyền số: 286/GUQ-2024 ngày 18/12/2024)
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng C, sinh năm 2000 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn T, xã C, thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng, hòa giải người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Đức T trình bày:
Ngày 30/3/2023, Công ty T1 ( Sau đây gọi tắt là: Công ty T1) ký Hợp đồng tín dụng theo “ Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng” số: 4463832 (sau đây gọi tắt là: Hợp đồng tín dụng) về việc cấp tín dụng cho bà Nguyễn Thị Hồng C với khoản vay trị giá 38.772.000đ (Ba mươi tám triệu bảy trăm bảy mươi hai ngàn đồng), trong đó bao gồm: 36.000.000đ tiền vay và 2.772.000đ tiền mua phí bảo hiểm khoản vay, hình thức vay tín chấp, không có tài sản bảo đảm, mục đích vay để tiêu dùng cá nhân, lãi suất 4.55%/tháng (tương đương 55%/năm). Thời hạn vay là 18 tháng kể từ ngày 15/4/2023 đến ngày 15/9/2024. Sau khi ký kết hợp đồng, Công ty T1 đã giải ngân cho bà Nguyễn Thị Hồng C bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng mà bà Nguyễn Thị Hồng Cúc cung C1. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị Hồng C đã thanh toán được 03 kỳ với tổng số tiền 10.558.208đ (Mười triệu năm trăm năm mươi tám nghìn hai trăm lẻ tám đồng). Từ ngày 13/6/2023 bà Nguyễn Thị Hồng C đã không thanh toán đầy đủ theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay mà phía Công ty T1 đã giải ngân.
Tính đến ngày 29/4/2025, bà Nguyễn Thị Hồng C còn nợ tổng cộng là 79.068.045 đồng, trong đó: Số tiền nợ gốc 33.378.086 đồng, số tiền lãi trong hạn 12.023.004 đồng, số tiền lãi quá hạn 32.034.071 đồng, lãi phạt chậm trả 1.732.884 đồng.
Do bà C vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Công ty T1 (Việt Nam) khởi kiện và yêu cầu bà C phải trả cho Công ty T1 tổng số tiền tính đến ngày 29/4/2025 là 79.068.045 đồng và tính lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đến khi bà Nguyễn Thị Hồng C thanh toán hết khoản vay.
Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng C không hợp tác nên không thu thập được lời khai của bà C.
Phát biểu của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Mỹ về việc tuân theo pháp luật tố tụng và nội dung:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa. Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ củ mình, còn bị đơn chưa chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định bà Nguyễn Thị Hồng C có vay và còn nợ Công ty T1 tổng số tiền tính đến ngày 29/4/2025 là 79.068.045 đồng chưa thanh toán. Do vậy, nguyên đơn Công Tài chính TNHH Một thành viên M khởi kiện là có căn cứ cần chấp nhận. Về án phí giải quyết theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa. Tòa án nhân dân thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nhận định:
Về tố tụng:
Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Công ty T1 (Việt Nam) khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Hồng C phải thanh toán số tiền nợ theo hợp đồng tín dụng, mục đích vay tiêu dùng cá nhân, không có mục đích lợi nhuận nên xác định đây là vụ án dân sự, quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bà C có địa chỉ tại khu phố C, phường T, thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo quy định tại các Điều 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Người đại diện theo ủy quyền của Công ty T1 (Việt Nam) ông Nguyễn Đức T vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do vậy Tòa án xét xử vắng mặt ông T, bà C theo quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu khởi kiện của Công ty T1 (Việt Nam) yêu cầu bà Nguyễn Thị Hồng C phải thanh toán tổng số tiền 79.068.045 đồng và yêu cầu tiếp tục tính lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng, xét thấy:
Hợp đồng tín dụng:
Căn cứ hợp đồng tín dụng số: 4463832 ngày 30/3/2023 thể hiện: Bà Nguyễn Thị Hồng C có vay Công ty T1 số tiền 36.000.000đ và tiền mua bảo hiểm khoản vay cho là 2.772.000đ; Lãi suất cho vay là 4.58%/tháng (tương ứng lãi suất 55 %/năm); Thời hạn vay là 18 tháng, hạn cuối trả là ngày 15/9/2024; Phương thức trả nợ: Trả nợ gốc và lãi vào ngày 15 hàng tháng; Mục đích vay tiêu dùng cá nhân và bảo hiểm người vay vốn. Công ty T1 đã giải ngân cho bà C đủ số tiền là 38.772.000đ bằng hình thức chuyển khoản. Xét Công ty T1 là một tổ chức tín dụng nên việc tổ chức và hoạt động được thực hiện theo Luật các Tổ chức tín dụng, việc ký hợp đồng tín dụng nêu trên là phù hợp với quy định của pháp luật. Hợp đồng tín dụng được ký kết dựa trên sự tự nguyện của các bên, không trái quy định hay vi phạm điều cấm của pháp luật nên hợp đồng tín dụng này có hiệu lực.
Mặc dù không thu thập được lời khai của bà C nhưng nguyên đơn đã thừa nhận bà Nguyễn Thị Hồng C đã thanh toán được 03 kỳ với tổng số tiền 10.558.208đ (Mười triệu năm trăm năm mươi tám nghìn hai trăm lẻ tám đồng) được vào một phần tiền gốc và tiền lãi suất nên cần ghi nhận số tiền trả nợ này. Nhưng từ ngày 13/6/2023 bà Nguyễn Thị Hồng C đã không thanh toán đầy đủ theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay mà phía Công ty T1 đã giải ngân là vi phạm nội dung thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng.
Về số tiền nợ gốc: Bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng C không đến Tòa án nên không thu thập được lời khai. Căn cứ vào hợp đồng tín dụng nêu trên, việc giải ngân và quá trình trả nợ của bà Nguyễn Thị Hồng C thì xác định hiện nay bà Nguyễn Thị Hồng C còn nợ tiền gốc là 33.278.086 đồng nhưng chưa thanh toán. Do vậy, nguyên đơn Công ty T1 (Việt Nam) khởi kiện là có căn cứ cần chấp nhận.
Xét yêu cầu tính lãi suất trong hạn, quá hạn, tiền chậm trả:
Công ty T1 (Việt Nam) yêu cầu bà Nguyễn Thị Hồng C phải thanh toán số tiền lãi trong hạn 12.023.004 đồng, số tiền lãi quá hạn 32.034.071 đồng, lãi phạt chậm trả 1.732.884 đồng:
Theo quy định tại khoản 3.7 và 3.8 Điều 3 của Hợp đồng tín dụng số4463832 ngày 30/3/2023 các bên đã thỏa thuận: Lãi suất hàng tháng 4.58%/tháng; Lãi suất theo năm 55%/năm; Lãi suất theo năm 58%/năm. Tại Khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 quy định “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật” và khoản 1, khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC quy định: “1. Lãi, lãi suất trong hợp đồng tín dụng do các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng tại thời điểm xác lập hợp đồng, thời điểm tính lãi suất. 2. Khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, Tòa án áp dụng quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng để giải quyết mà không áp dụng quy định về giới hạn lãi suất của Bộ luật Dân sự năm 2005, Bộ luật Dân sự năm 2015 để xác định lãi, lãi suất”. Như vậy lãi suất trong hoạt động cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng được áp dụng theo cơ chế tự thỏa thuận, miễn không chạm mức lãi suất do pháp luật hình sự cấm thì đều được công nhận. Do đó lãi suất trong hạn theo thoả thuận với mức 4.55%/tháng là phù hợp. Việc bà C vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngoài việc thanh toán nợ gốc và lãi trong hạn còn phải thanh toán lãi quá hạn, lãi phạt chậm trả theo thoả thuận tại Mục 8.3 của “Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng” nêu trên là phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, tính đến ngày 29/4/2025 bà C phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền lãi trong hạn 12.023.004 đồng, số tiền lãi quá hạn 32.034.071 đồng, lãi phạt chậm trả 1.732.884 đồng và tiếp tục phải thanh toán lãi suất theo hợp đồng tín dụng nêu trên kể từ ngày 30/42025 cho đến khi trả hết nợ.
Từ những phân tích nêu trên cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Nguyễn Thị Hồng C phải trả cho Công ty T1 (Việt Nam) tổng số tiền 79.068.045 đồng trong đó: Số tiền nợ gốc 33.378.086 đồng, số tiền lãi trong hạn 12.023.004 đồng, số tiền lãi quá hạn 32.034.071 đồng, lãi phạt chậm trả 1.732.884 đồng.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Toà án chấp nhận nên cần buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng C nộp án phí dân sự sơ thẩm là 79.068.045đ x 5% = 3.953.402đ. Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp cho Công ty T1 (Việt Nam).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
+ Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, 228, 238, 266 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
+ Các Điều 116, 117, 118, 119, 274, 275, 280, 357, 463, 466 Bộ luật dân sự;
+ Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
+ Điều 7, Điều 8, Điều 13 Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
+ Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T1 (Việt Nam) với bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng C về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”:
+ Buộc bà Nguyễn Thị Hồng C có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty T1 (Việt Nam) tổng số tiền là 79.068.045đ (Bảy mươi chín triệu không trăm sáu mươi tám nghìn không trăm bốn mươi lăm đồng) trong đó: Số tiền nợ gốc 33.378.086 đồng, số tiền lãi trong hạn 12.023.004 đồng, số tiền lãi quá hạn 32.034.071 đồng, lãi phạt chậm trả 1.732.884 đồng. Bà Nguyễn Thị Hồng C còn phải tiếp tục phải thanh toán tiền lãi phát sinh, tiền chậm trả theo “Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4463832” ký ngày 30/3/2023 kể từ ngày 30/4/2025 cho đến khi trả hết nợ.
2. Về án phí:
+ Bà Nguyễn Thị Hồng C phải nộp 3.953.402đ (Ba triệu chín trăm năm mươi ba nghìn bốn trăm linh hai đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
+ Hoàn trả cho Công ty T1 (Việt Nam) số tiền 1.298.000đ (Một triệu hai trăm chín mươi tám ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004181 ngày 29 tháng 11 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hời hạn thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (29/4/2025). Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND Bà Rịa - Vũng Tàu; - VKSND thành phố Phú Mỹ; - Chi cục THADS TP. Phú Mỹ; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Cường |