vanban.org

Bản án 86/2024/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Nam Từ Liêm, TP. Hà Nội Tuyên án 26/07/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Cướp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Đ 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/9/2023. Về vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "nguyễn văn đông - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Cướp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 168 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NAM TỪ LIÊM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:86/2024/HS-ST
Ngày: 26/3/2024

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Bá Huynh

Ông Phan Minh Tuấn

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Phúc Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:57/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Đ, sinh ngày X thángY năm Z tại NĐ; giới tính: Nam; nơi đăng ký thường trú: Xóm F, xã GL, huyện GT, tỉnh NĐ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn L (đã chết) và con bà Trần Thị C, sinh năm Z1; có vợ là Trần Ngọc L, sinh năm Z2 và có 03 con (con lớn sinh năm Z3, con nhỏ sinh năm Z4); tiền sự: Không.Tiền án:

Tại bản án số 20/HSST ngày 07/5/2018, Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xử phạt 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 60 tháng. Chưa được xóa án tích.

Bị giữ, bắt người trong trường hợp khẩn cấp từ ngày 25/9/2023, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 1, Công an thành phố Hà Nội.

Bị hại: Anh Nguyễn Văn Đ1, sinh năm Z5; Đăng ký HKTT: F1 đường NTT, phường AH, thành phố RG, tỉnh K. Vắng mặt.

Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Trần Kim A, sinh năm Z6, đăng ký HKTT: Xóm F2, xã DP, huyện DC, tỉnh NA. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 5 năm 2023, Nguyễn Văn Đ và chị Trần Kim A có quan hệ tình cảm với nhau. Đến tháng 6 năm 2023, chị Kim A biết Đ đã có vợ nên chia tay Đ. Thông qua bạn bè giới thiệu, ngày 02/9/2023, chị Kim A có quen biết anh Nguyễn Văn Đ1 và sau đó nảy sinh tình cảm với anh Đ1. Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 24/9/2023, anh Đ1 đi từ Thái Nguyên xuống Hà Nội và đến ở phòng trọ của chị Kim A tại tầng F3 số F4 đường NĐC, phường CD, quận NTL, HN. Đến khoảng 00 giờ ngày 25/9/2023, Nguyễn Văn Đ đến phòng trọ của chị Trần Kim A để nói chuyện và gọi điện thoại cho chị Kim A xuống mở khoá cổng khu trọ nhưng chị Kim A không đồng ý nên Đ tự mở khoá cổng bằng chìa khóa riêng của mình và đi lên tầng 2. Tại đây, Đ gõ cửa phòng thì chị Kim A ra mở cửa, Đ nhìn vào thấy anh Nguyễn Văn Đ1 đang ở trong phòng nên Đ hỏi chị Kim A “ai đấy?”, chị Kim A trả lời: “Đây là người yêu em” thì Đ bực tức chỉ tay vào mặt Kim A và nói: “Chúng mày nhớ lấy mặt tao” và bỏ xuống tầng 1. Sau đó, do ghen tuông nên Đ quay lại phòng trọ của Kim A và dùng tay đập mạnh liên tiếp vào cửa ra vào phòng, chị Kim A ra mở cửa thì Đ liên tục chửi bới chị Kim A: “Đm mày con đĩ, mày làm vợ tao thế à, tao vừa đi công tác buổi sáng, buổi chiều mày đã dẫn trai về”, chị Kim A nói lại Đ: “Tao trả liên quan gì đến mày” nên Đ đã lao vào dùng tay phải tát 01 cái vào vùng tai bên trái của chị Kim A làm chị Kim A bị ngã xuống giường, khi chị Kim A đứng dậy thì Đ tiếp tục dùng tay phải tát 01 cái vào má bên trái của chị Kim A. Anh Đ1 thấy vậy vào can ngăn không cho Đ đánh chị Kim A nữa và nói: “Có chuyện gì thì từ từ nói chuyện” thì bị Đ dùng tay phải đấm vào vùng thái dương bên trái của anh Đ1 làm anh Đ1 bị ngã ra giường, Đ tiếp tục lao vào vật anh Đ1 xuống giường nên làm sập chân giường. Sau đó, Đ dùng hai tay đấm nhiều cái vào vùng đầu và vùng mặt của anh Đ1. Thấy anh Đ1 bị đánh, chị Kim A vào can ngăn và kéo Đ ra thì Đ chửi Đ1: “Đm mày cút ngay không thì tao giết” đồng thời Đ đi vào bếp lấy 01 con dao nhọn chuôi gỗ dài khoảng 33cm đi ra thì thấy anh Đ1 bỏ chạy ra ngoài, Đ cầm dao chạy đuổi theo anh Đ1 ra cổng nhưng không thấy Đ1 đâu nên quay lại đâm con dao vào yên xe máy Honda Vision, biển kiểm soát: 37F1-***.26 của chị Kim A rồi gọi điện thoại cho bạn là Đoàn Đình Th(Sinh năm: Z7; HKTT: Xóm F5, GL, GT, NĐ) đến để đưa Đ về. Sau khi gọi điện cho Th thì Đ cầm dao đi lên phòng trọ của chị Kim A tiếp tục chửi bới chị Kim A và đe dọa: “Mày gọi thằng bồ của mày về đây không tao xử hai mẹ con mày”. Trong lúc chờ Th đến thì Đ gọi Zalo (video) cho mẹ của chị Kim A là bà Nguyễn Thị H (Sinh năm: Z8; HKTT: xã DT, DC, NA) vừa nói chuyện vừa chửi bới chị Kim A nên chị Kim A có nói vọng vào điện thoại của Đ là: “Mẹ ơi thằng Đ nó đánh con, nó dọa giết con”. Cùng lúc này, Th đi xe ôm đến phòng trọ của chị Kim A thì thấy Đ đang gọi điện qua Zalo với mẹ của chị Kim A nên Th đã giật điện thoại của Đ cất đi, lúc này Đ do bực tức nên cầm chiếc ghế ionx đập xuống đất làm ghế ionx gãy ốc, cong vênh và dùng tay phải đấm mạnh vào cửa ra vào khiến tấm tôn chắn cửa (kích thước 1m25cm x 68cm) bị bung ra. Sau đó, Đ nhìn thấy chiếc ví da màu đen của anh Đ1 để trên mặt bàn trang điểm trong phòng nên Đ đã lấy và mở ra xem thì thấy có 01 mảnh giấy nhỏ ghi số điện thoại của anh Đ1, Đ đã lấy điện thoại ra gọi vào số điện thoại trên thì thấy điện thoại rung ở khu vực đầu giường nên Đ bảo Th tìm điện thoại của anh Đ1, khi Th mở ngăn kéo bàn trang điểm ra và có thấy chiếc điện thoại Samsung Galaxy S21, màu đen của anh Đ1 ở trong ngăn kéo nhưng do không muốn liên quan đến tài sản của người khác nên anh Th đã đóng ngăn kéo lại và nói với Đ là không thấy. Đ thấy vậy đã bảo Th tránh ra để Đ tự tìm. Khi Đ mở ngăn kéo bàn trang điểm ra phát hiện thấy chiếc điện thoại Samsung Galaxy S21 được ốp nhựa màu trắng và nắp sim số 096****321 của anh Đ1 nên đã lấy và đi ra bàn máy tính lấy ví và giấy tờ của anh Đ1 để trong ví (gồm: 01 giấy phép lái xe hạng A1 và 01 giấy phép lái xe hạng C tất cả đều mang tên Nguyễn Văn Đ1) cho vào sau ốp lưng điện thoại của anh Đ1 và bỏ điện thoại vào túi quần bên trái. Sau đó, Đ tiếp tục lấy khoảng 4-5 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng ném về phía chị Kim A và chửi chị Kim A rồi bỏ ví lại mặt bàn trang điểm, đồng thời Đ cầm chiếc quạt điện định đánh chị Kim A thì được Th can lại nên Đ không đánh nữa. Lúc này, chị Kim A do bực tức nên đứng dậy dùng tay phải tát 01 cái vào má bên trái của Đ thì bị Đ đẩy ngã ra giường nên Th đã nói với chị Kim A nên đưa con ra nhà nghỉ ngủ cho an toàn nên chị Kim A đồng ý và đã đi cùng con nhỏ ra nhà nghỉ tại ngõ J đường DK, CG, HN để ngủ qua đêm còn Đ và Th ở lại phòng của chị Kim A để sửa lại chân giường đã bị sập. Sau khi sửa giường xong, Th chở Đ đi ăn đêm, khi đi đến khu vực đầu ngõ J1 HTM, phường CD, quận NTL, HN thì Đ nhìn thấy anh Đ1 đi trên đường nên Đ nhảy xuống xe đuổi theo anh Đ1 nhưng do không đuổi được nên Đ quay lại cùng Th đi ăn đêm. Chị Kim A sau khi thuê nhà nghỉ nhưng do không có tiền trả nên đã nhắn tin hỏi vay tiền Th thì Th đã nói lại với Đ nên Đ đã lấy 900.000 đồng trong ví đưa cho Th. Sau đó, Th cầm tiền đến nhà nghỉ trả tiền phòng cho chị Kim A hết 400.000 đồng và đưa cho chị Kim A 500.000 đồng để chị Kim A chi tiêu sau đó quay lại tiếp tục đi ăn đêm và cùng Đ đi về (Đ vẫn cầm theo điện thoại Samsung S21 cùng giấy tờ lấy được của anh Đ1 mang về nhà). Đến khoảng 07 giờ 20 phút cùng ngày, Th nhắn tin khuyên Đ trả lại điện thoại cho anh Đ1 nhưng Đ không trả lại mà nhắn lại cho Th là “không lo đâu, chẳng có bằng chứng gì anh cầm của nó cả” và tiếp tục nhắn tin chửi mắng, đe dọa chị Kim A và anh Đ1.

Cùng ngày, anh Nguyễn Văn Đ1 cùng chị Trần Kim A đã đến Công an phường Cầu Diễn, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội trình báo sự việc.

Ngày 26/9/2023, Nguyễn Văn Đ bị bắt trong trường hợp khẩn cấp.

Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại Samsung; 01 giấy phép lái ôtô mang tên Nguyễn Văn Đ1; 01 giấy phép lái môtô mang tên Nguyễn Văn Đ1; 01 điện thoại Iphone X và 01 thẻ ra vào chung cư (thu giữ của Nguyễn Văn Đ); 01 con dao cán gỗ, lưỡi dao bằng kim loại dầu nhọn dài 33cm, phần lưỡi rộng 3,5cm; 01 ví da màu đen đã qua sử dụng bên trong có 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Văn Đ1 và 01 mảnh giấy hình chữ nhật có nội dung: “Nhặt được xin liên hệ: 096****321” cùng 03 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng (Thu giữ của khi khám nghiệm hiện trường).

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn Đ khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên nhưng Đ không thừa nhận việc cầm dao đe dọa chị Kim A và khai: khi Đ cầm dao quay lại phòng trọ của chị Kim A thì Đ đã cắm con dao lên mặt bàn máy tính, Đ chỉ có lời nói chửi bới, đe dọa chị Kim A yêu cầu chị Kim A gọi anh Đ1 quay lại để nói chuyện với Đ. Đ cũng không lấy tiền trong ví của anh Đ1 mà chỉ lấy tiền ra ném về phía chị Kim A do bực tức, số tiền có trong ví của anh Đ1 thì Đ không rõ là bao nhiêu mà chỉ đoán có khoảng 4-5 trăm nghìn đồng. Đ không thừa nhận việc sử dụng chiếc ghế gập ném vào người chị Kim A mà chỉ dùng chiếc ghế ném xuống sàn nhà và có cầm chiếc quạt điện định đánh chị Kim A nhưng anh Th can ngăn nên chưa đánh trúng.

Tại Cơ quan điều tra, chị Trần Kim A khai khi Đ đuổi theo anh Đ1 xuống tầng 1 không được thì quay lại phòng trọ của chị Kim A, trên tay vẫn cầm theo con dao và liên tục chửi bới đe dọa chị Kim A, đến khi Đ lấy chiếc điện thoại Samsung S21 của anh Đ1 thì Đ mới cắm con dao lên mặt bàn máy tính nên chị Kim A không dám ngăn cản. Ngoài ra, Đ còn sử dụng 01 chiếc ghế gập có khung bằng kim loại ném trúng người chị Kim A khiến chị Kim A bị bầm tím cánh tay phải và xây xước da vùng ngực trái, Đ còn cầm 01 chiếc quạt điện đánh trúng vào vai trái của chị Kim A khiến chị Kim A bị bầm tím vai trái. Khi Đ lấy giấy tờ trong ví của anh Đ1 thì chị Kim A có nhìn thấy nhưng không thấy Đ ném tiền của anh Đ1 về phía mình do lúc đó chị Kim A ngồi ở trên giường ôm con nên không để ý.

Tại Cơ quan điều tra anh Nguyễn Văn Đ1 khai số tiền trong ví anh Đ1 bị mất là 3.050.000 đồng gồm khoảng 25 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 02 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và 03 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng và khai khi anh Đ1 đi bộ ở khu vực ngõ J1 HTM, phường CD, quận NTL, HN thì thấy Th xuống đuổi theo anh Đ1 cùng Đ.

Tại Cơ quan điều tra Đoàn Đình Th khai: khi Th đến phòng trọ của chị Kim A thì không thấy Đ cầm dao mà chỉ thấy Đ liên tục chửi bới, đe dọa chị Kim A, chỉ đến khi Đ lấy chiếc ví của anh Đ1 thì Th mới thấy con dao nhọn đang cắm ở mặt bàn máy tính. Th cũng không thấy Đ cầm ghế đánh chị Kim A mà chỉ thấy Đ cầm chiếc quạt điện định đánh chị Kim A thì Th đã can ngăn nên Đ không đánh và có nhìn thấy Đ lấy tiền trong ví của anh Đ1 ra ném về phía chị Kim A, số tiền cụ thể bao nhiêu thì Th không rõ nhưng Th đoán có khoảng 5-6 trăm nghìn đồng và Th không đuổi bắt anh Đ1 cùng Đ mà chỉ đi xe máy chạy theo Đ khi Đ đuổi theo anh Đ1.

Do có mâu thuẫn trong lời khai nên ngày 08/01/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa Nguyễn Văn Đ, chị Trần Kim A, anh Nguyễn Văn Đ1 và Đoàn Đình Th để làm rõ mâu thuẫn trong lời khai nhưng các bên tham gia đối chất vẫn giữ nguyên lời khai của mình như đã nêu trên.

Tại kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 238 ngày 12/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận Nam Từ Liêm, kết luận: 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy S21 FE, trị giá là: 6.000.000 đồng; 01 chiếc ốp điện thoại bằng nhựa màu trắng, trị giá là: 30.000 đồng; 01 chiếc sim điện thoại số: 096****321, trị giá là: 25.000 đồng; 01 yên xe máy làm bằng da của chiếc xe máy Honda Vision, biển kiểm soát: 37F1-***.26, có vết rách dài 05cm, Trị giá là: 150.000 đồng; 01 cánh cửa ra vào bằng khung sắt kích thước 2m15 x 0m80 bị bung rời tấm chắn bằng tôn kích thước 1m25 x 0m68 và cong vênh. Tấm tôn và khung cửa còn nguyên vẹn. Trị giá tài sản là: 100.000 đồng; 01 ghế ghập khung kim loại bị gãy ốc, cong vênh chân bên phải không gập lại được: Không đủ cơ định giá tài sản.

Tổng giá trị tài sản Nguyễn Văn Đ đã chiếm đoạt là: 6.055.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản Nguyễn Văn Đ làm hư hỏng là: 250.000 đồng.

Ngày 09/10/2023, Cơ quan điều tra đã ra quyết định trưng cầu giám định thương tích của chị Trần Kim A và anh Nguyễn Văn Đ1.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1585/KLTTCT-TTPY ngày 31/10/2023 của Trung tâm pháp y Hà Nội, kết luận về tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Trần Kim A:

Các chạm thương phần mềm vùng đầu, mặt, cổ, ngực, tai trái không để lại sẹo vết thương: 00% (Không phần trăm).

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Trần Kim A tại thời điểm giám định trong vụ việc ngày 25/9/2023 là: 00% (Không phần trăm).

Kết luận khác: Cơ chế hình thành thương tích: Các thương tích của chị Trần Kim A do vật tày gây ra.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1589/KLTTCT-TTPY ngày 01/11/2023 của Trung tâm pháp y Hà Nội, kết luận về tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Văn Đ1 như sau:

Chạm thương phần mềm vùng đầu không còn sưng nề bầm tím, không để lại sẹo vết thương, không tổn thương xương: 00%.

Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Văn Đ1 tại thời điểm giám định trong vụ việc ngày 25/9/2023 là không xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.

Kết luận khác: Cơ chế hình thành thương tích: Tổn thương của anh Nguyễn Văn Đ1 do vật tày, vật tày có cạnh gây ra.

Đối với hành vi đánh gây thương tích cho anh Nguyễn Văn Đ1 và chị Trần Kim A của Nguyễn Văn Đ: Do kết quả giám định xác định tỷ lệ thương tích của chị Kim A và anh Đức là 0% nên hành vi của Đ chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Ngày 16/01/2024, cơ quan Công an quận Nam Từ Liêm đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đ về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” quy định tại điểm a khoản 5 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021. Mức phạt tiền: 6.500.000 đồng.

Đối với hành vi của Nguyễn Văn Đ đã đập gây hư hỏng tài sản của chị Kim A, do giá trị tài sản bị hư hỏng là: 250.000 đồng (dưới 2.000.000 đồng) và nhân thân Đ chưa có tiền án, tiền sự về hành vi cố ý làm hư hỏng hoặc hủy hoại tài sản nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Ngày 16/01/2024, Công an quận Nam Từ Liêm đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đ về hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của cá nhân, tổ chức theo điểm a khoản 2 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021. Mức phạt tiền 4.000.000 đồng.

Đối với việc anh Nguyễn Văn Đ1 khai bị mất số tiền 3.050.000 đồng trong ví, do ngoài lời khai của anh Đ1 về việc bị mất tiền (số tiền này anh Đ1 không có yêu cầu bồi thường) và do Nguyễn Văn Đ khai không chiếm đoạt tiền của anh Đ1 mà khai chỉ lấy khoảng 4 - 5 trăm nghìn đồng ra ném về phía chị Kim A do bực tức (phù hợp với lời khai của Đoàn Đình Th và Biên bản khám nghiệm hiện trường đã phát hiện và thu giữ 300.000 đồng) và do chị Kim A khai không thấy Đ lấy tiền của anh Đ1 nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để kết luận và xử lý, là có căn cứ.

Đối với Đoàn Đình Th mặc dù Th có chứng kiến việc Đ lấy chiếc điện thoại SamSung S21 màu đen của anh Đ1 nhưng do Đ không có sự bàn bạc, trao đổi với Th và bản thân Th khi biết việc Đ lấy điện thoại của Đ1 cũng đã can ngăn và khuyên bảo Đ trả lại điện thoại cho Đ1 nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với việc Nguyễn Văn Đ có lời nói đe dọa giết anh Đ1 và chị Kim A, do Đ khai vì bực tức và ghen tuông nên Đ chỉ nói như vậy chứ không có ý định thực hiện. Mặt khác do chị Kim A khai không tin là Đ sẽ thực hiện còn anh Đ1 khai tại phòng trọ, anh Đ1 không nghe thấy Đ đe dọa giết anh Đ1 nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Ngày 12/10/2023, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng và tiến hành trao trả cho anh Nguyễn Văn Đ1: 01 điện thoại Samsung S21; 01 giấy phép lái ôtô; 01 giấy phép lái môtô; 01 chứng minh nhân dân (đều mang tên Nguyễn Văn Đ1); 01 ví da màu đen và 01 thẻ ra vào chung cư.

Về dân sự: Chị Trần Kim A và anh Nguyễn Văn Đ1 không có yêu cầu bồi thường gì về dân sự. Anh Đ1 cũng không yêu cầu trả lại 300.000 đồng đã thu giữ.

Tại bản Cáo trạng số 39/CT-VKSNTL, ngày 04/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm đã truy tố Nguyễn Văn Đ về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên nhưng không đồng ý với tội danh Cướp tài sản như đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm đã truy tố vì bị cáo cho rằng bản thân chỉ lấy điện thoại của anh Nguyễn Văn Đ1 để anh Đ1 phải quay lại nói chuyện với mình và đồng ý với mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm đề nghị.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyên Văn Đ từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù , thời hạn tù tính từ ngày 25/9/2024. Về dân sự: không. Về hình phạt bổ sung: không. Về vật chứng: tịch thu tiêu hủy 01 con dao, tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại Iphone và số tiền 300.000 đồng. Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng được thu giữ, cùng các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 00 giờ ngày 25/9/2023, tại phòng trọ tầng F3 số F4 đường NĐC, phường CD, quận NTL, HN, do mâu thuẫn ghen tuông về tình cảm với chị Trần Thị Kim A và anh Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Văn Đ đã có hành vi chửi bới và dùng vũ lực đánh chị Trần Kim A. Khi anh Nguyễn Văn Đ1 đã vào can ngăn thì bị Đ đánh, vật ngã ra giường, dùng hai tay đấm nhiều cái vào vùng đầu, mặt của anh Đ1, sau đó Đ chạy vào bếp lấy dao ra đe dọa. Anh Đ1 thấy Đ chạy vào bếp cầm dao nên đã bỏ chạy ra ngoài và bỏ lại chiếc điện thoại SamSung S21 trong ngăn kéo bàn cùng chiếc ví da, trong có giấy tờ tùy thân và tiền trên bàn trong phòng trọ của chị Kim A. Sau khi anh Đ1 bỏ chạy, Đ tiếp tục có hành vi cầm dao đe dọa, uy hiếp chị Kim A sau đó lục soát và chiếm đoạt chiếc điện thoại SamSung S21 có ốp nhựa màu trắng, lắp sim số 096****321 trị giá 6.055.000 đồng của anh Nguyễn Văn Đ1.

Mặc dù bị cáo không thừa nhận hành vi của mình là Cướp tài sản nhưng Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Đ đã phạm tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo về tội danh trên là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Đối với hành vi của Nguyễn Văn Đ đã đập gây hư hỏng tài sản của chị Kim A, do giá trị tài sản bị hư hỏng là: 250.000 đồng nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Công an quận Nam Từ Liêm đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đ về hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của cá nhân, tổ chức theo điểm a khoản 2 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021là phù hợp.

Đối với hành vi đánh gây thương tích cho anh Nguyễn Văn Đ1 và chị Trần Kim A của Nguyễn Văn Đ: Do kết quả giám định xác định tỷ lệ thương tích của chị Kim A và anh Đ1 là 0% nên hành vi của Đ chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên cơ quan Công an quận Nam Từ Liêm đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đ về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” quy định tại điểm a khoản 5 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021là phù hợp.

. Xét tính chất hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Bị cáo đã có gia đình nhưng khi thấy chị Kim A và anh Đ1 có quan hệ tình cảm thì ghen tuông và cố ý gây thương tích cho chị Kim A và anh Đ1, dùng hung khí nguy hiểm là dao để đe dọa khiến chị Kim A và anh Đ1 hoảng sợ và sau đó lục lọi chiếm đoạt tài sản của anh Đ1. Hành vi của bị cáo là trái đạo đức xã hội, gây bất bình và hoang mang trong dư luận. Bản thân bị cáo đã từng bị xét xử cải tạo giáo dục ngoài xã hội, chưa được xóa án tích vì hành vi gây Gây rối trật tự công cộng nhưng không lấy đấy làm bài học kinh nghiệm cho bản thân mà tiếp tục phạm tội. Vì vậy cần áp dụng một mức hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có khả năng cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội trong thời gian một năm kể từ ngày chấp hành xong thời hạn thử thách của án treo nên chưa được xóa án tích, vì vậy lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn Đ1 và chị Trần Kim A không có yêu cầu bị cáo bồi thường về dân sự nên HĐXX không xem xét.

. Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo không có công việc và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về vật chứng:

Đối với 01 con dao cán gỗ, lưỡi dao bằng kim loại đầu nhọn dài 33cm, phần lưỡi rộng 3,5cm là công cụng phương tiện phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại Iphone X thu giữ của bị cáo được dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

Đối với số tiền 300.000 đồng của anh Nguyễn Văn Đ1 được thu giữ tại hiện trường, anh Nguyễn Văn Đ1 từ chối nhận và đề nghị sung quỹ nhà nước nên tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền trên.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí; bị cáo, bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ: d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

2.Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Cướp tài sản”.

3. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Đ 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/9/2023.

4. Về vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 con dao cán gỗ, lưỡi dao bằng kim loại đầu nhọn dài 33cm, phần lưỡi rộng 3,5cm.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại Iphone X và số tiền 300.000 đồng.

(Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội theo “Biên bản giao, nhận vật chứng” ngày 11tháng 3 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Nam Từ Liêm và Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm và số tiền cần tịch thu được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm theo Ủy nhiệm chi ngày 19/3/2024).

5. Về án phí và quyền kháng cáo:

- Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Nơi nhận:

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND.TP. Hà Nội;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND.Q. Nam Từ Liêm;

- Công an Q. Nam Từ Liêm;

- Chi cục THADS.Q. Nam Từ Liêm;

- UBND xã nơi bị cáo cư trú;

- Sở Tư pháp TP. Hà Nội;

- Người tham gia tố tụng;

Lê Thị Thúy Quỳnh

- Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA .

Cỡ chữ