- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Thông tư số 22/2019/TT-BYT quy định tỷ lệ phần trăm tổn thươ…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 86/2024/HS-ST Ngày: 27 - 12 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đặng Trường Bảo.
2. Bà Bùi Thị Luyến.
- Thư ký phiên Tòa: Ông Biện Việt Cường – Thư ký Toà án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Đinh Xuân Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2024 tại Hội trường xử án Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 88/2024/TLST - HS, ngày 26 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2024/QĐXXST - HS, ngày 13 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Đăng S, sinh năm 1974 tại Bình Thuận; nơi thường trú: Thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đ (đã chết) và con bà Phạm Thị M (đã chết); vợ: Trần Thị Thanh N, sinh năm 1975; con có hai người, lớn nhất sinh năm 1992; nhỏ nhất sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo đang tại ngoại: Có mặt.
Bị hại:
- Đặng Kim H, sinh năm 1975; địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận: Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Huỳnh Tấn P, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn E, xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận: Có mặt.
- Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận: Có mặt.
- Nguyễn Thị N1, sinh năm 1975; Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận: Có mặt.
- Trần Đăng T, sinh năm 1988; Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận: Có mặt.
Người làm chứng:
- Đặng Thị Kim U, sinh năm 1982; Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận: Có mặt.
- Nguyễn Thị H2, sinh năm 1988; Địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận: Vắng mặt.
- Nguyễn Đinh Đ1, sinh năm 1974; Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận: Vắng mặt.
Người chứng kiến:
- Quách Thanh L, sinh năm 1975; Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận: Vắng mặt.
- Phạm Văn T1, sinh năm 1980; Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận: Vắng mặt.
- Trần Thị N2, sinh năm 1963; Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận: Có mặt.
- Võ Văn Đ2, sinh năm 1958; Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận: Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ ngày 10/01/2024 ông Đặng Kim H đang ở trên đường bê tông liên thôn khu vực trước sân nhà Trần Đăng S thì giữa Đặng Kim H và Huỳnh Tấn P xảy ra mâu thuẫn. Sau đó, dẫn đến xô xát nhau. Trần Đăng S thấy Huỳnh Tấn P bị H đánh nên chạy ra can ngăn và xô đẩy H. Sau đó, Trần Đăng S xô xát với Đặng Kim H. Đặng Kim H cầm 01 cục gạch loại gạch 06 lỗ chọi trúng tay Trần Đăng S và làm trầy xước nhẫn của Trần Đăng S. Lúc này, Trần Đăng T là con trai của Trần Đăng S chạy ra ôm H lại, cả hai vật nhau xuống đường. Đặng Kim H vùng dậy chạy vào nhà Đặng Thị Kim U là em gái của H, cách nhà Trần Đăng S khoảng 50 mét lấy 01 con dao chiều dài 33,6cm cán bằng nhựa màu đen, lưỡi bằng kim loại chạy về phía nhà Trần Đăng S để đuổi đánh nên Trần Đăng S chạy vào nhà. Đặng Kim H tiếp tục cầm dao chạy đuổi đánh Trần Đăng T. Trần Đăng S thấy vậy liề chạy đến trước nhà ông Võ Văn Đ2 đối diện nhà S nhổ một cây gỗ có cạnh vuông kích thước 81,2cmx1,7cmx3cm là cây gỗ thợ xây đóng để căng dây xây nhà. Khi Trần Đăng S đuổi kịp H thì cầm cây bằng hai tay giơ lên đánh mạnh vào tay trái đang cầm dao của Đặng Kim H 01 cái làm Đặng Kim H bị thương tích cẳng tay trái và làm rớt dao xuống đất. Đặng Kim H quay lại chụp được cây gỗ và giằng co cây gỗ với Trần Đăng S. Quá trình giằng co Đặng Kim H bị thương tích ở ngón trỏ tay trái. Đặng Kim H tiếp tục chạy vào nhà Đặng Thị Kim U tìm lấy một cái bay xây dựng định chạy ra đuổi Trần Đăng S nhưng S đã ném bỏ cây gỗ và về nhà. Sau đó, Đặng Kim H nằm xuống đường bê tông trước nhà Trần Đăng S và được mọi người đưa đi cấp cứu.
Tại bản cáo trạng số: 88/CT – VKS - TL, ngày 22/11/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh đã truy tố bị cáo Trần Đăng S về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh khẳng định bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo Trần Đăng S hoàn toàn có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Đăng S phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét:
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 và điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 BLHS năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Trần Đăng S với mức án từ: 15 tháng đến 18 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng.
Về vật chứng:
Đề nghị tịch thu, tiêu hủy: 01 cây dao có cán bằng nhựa màu đen kích thước 11,6cmx3,2cm, lưỡi dao bằng kim loại có kích thước 22cmx4cm; 01 thanh gỗ có kích thước dài 81,2cm, hai đầu có kích thước lần lượt là 03cmx1,7cm và 03cmx1,7cm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo Trần Đăng S:
Vào khoảng 16 giờ 30, ngày 10/01/2024 tại Thôn B, xã H, huyện T. Sau khi, Trần Đăng S can ngăn không cho Đặng Kim H đánh Huỳnh Tấn P thì Đặng Kim H có hành vi cầm gạch loại 6 lỗ ném trúng tay Trần Đăng S. Lúc này, Trần Đăng T (con của Trần Đăng S) chạy ra can ngăn thì Đặng Kim H chạy đến nhà Đặng Thị Kim U lấy 01 con dao rượt đuổi để chém Trần Đăng T. Trần Đăng S nhìn thấy Đặng Kim H đang cầm dao dơ lên chém về hướng Trần Đăng T thì Trần Đăng S lấy một cây gỗ có cạnh vuông cầm bằng hai tay giơ lên đánh mạnh một cái trúng vào tay trái đang cầm dao của Đặng Kim H làm rớt dao xuống đất.
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 603/KLTTCT-TTPYBT, ngày 19/7/2024 của Trung tâm giám định y khoa – pháp y của Sở y tế tỉnh B kết luận thương tích của Đặng Kim H như sau:
Kết quả chính:
- Chấn thương – vết thương mặt sau dưới cẳng tay trái, gãy kín 1/3 dưới xương trụ trái đã phẫu thuật, hiện xương trụ can xương chưa hoàn toàn, xương thẳng trục, không ngắn chi, cẳng tay trái hạn chế động tác ngửa mức độ nhẹ; để lại sẹo vết thương trùng với sẹo vết mổ kích thước (7,2x0,2)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 10%+3%.
- Vết thương mặt lòng đốt gần ngón 2 bàn tay trái đã được điều trị hiện để lại sẹo kích thước (1,5x0,1)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1%.
Kết luận:
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Đặng Kim H tại thời điểm giám định là 14%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Kết luận khác: Các vết thương, chấn thương do vật tày gây ra; các vết thương, chấn thương có chiều hướng lực tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương.
Như vậy, là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; thế nhưng, bị cáo Trần Đăng S đã có hành vi dùng cây gỗ vuông – là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho Đặng Kim H với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 14%. Cho nên, bị cáo Trần Đăng S đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1; điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Đăng S không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Trần Đăng S đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Trần Đăng S đã bồi thường thiệt hại cho bị hại Đặng Kim H với tổng số tiền 20.000.000đ. Bị hại Đặng Kim H xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị hại Đặng Kim H cũng có lỗi dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo Trần Đăng S. Cho nên, cần xem xét cho Trần Đăng S được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét thấy: Bị cáo Trần Đăng S phạm tội trong trường hợp có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS. Do đó, cần áp dụng Điều 54 để xem xét xử phạt bị cáo dưới mức án thấp hơn khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 134 BLHS là phù hợp.
Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Trần Đăng S phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ; bị cáo có quá trình nhân thân tốt; có nơi cư trú rõ ràng, ổn định. Nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo là do bị hại Đặng Kim H có hành vi dùng dao rượt đuổi nhằm mục đích gây thương tích cho anh Trần Đăng T là con của bị cáo Trần Đăng S. Để tránh trường hợp Đặng Kim H gây thương tích cho Trần Đăng T nên bị cáo mới có hành vi dùng cây gây thương tích cho Đặng Kim H. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy không cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo Trần Đăng S ra khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo; giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục là phù hợp với quy định tại Điều 65 BLHS.
Về vật chứng: Hiện đang thu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tánh Linh gồm:
- 01 cây dao có cán bằng nhựa màu đen kích thước 11,6cmx3,2cm, lưỡi dao bằng kim loại có kích thước 22cmx4cm; 01 thanh gỗ có kích thước dài 81,2cm, hai đầu có kích thước lần lượt là 03cmx1,7cm và 03cmx1,7cm.
Đây là công cụ thực hiện hành vi phạm tội và vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy là phù hợp với quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại Đặng Kim H không yêu cầu bị cáo Trần Đăng S bồi thường thiệt hại gì nên Hội đồng xét xử không xét đến.
Về án phí: Cần buộc bị cáo Trần Đăng S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Về tội danh:
Căn cứ vào: Điểm a khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố: Bị cáo Trần Đăng S phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
Về hình phạt:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Xử phạt Trần Đăng S: 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 27/12/2024).
Giao bị cáo Trần Đăng S cho Ủy ban nhân xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận để giám sát, giáo dục.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú ngoài phạm vi huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trách nhiệm làm thủ tục chuyển hồ sơ thi hành án treo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người được hưởng án treo đến cư trú để tổ chức việc thi hành án theo quy định tại Điều 62 của Luật này và thông báo bằng văn bản cho Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo (Trần Đăng S) cố ý vi phạm hai nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo (Trần Đăng S) phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về vật chứng:
Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy: 01 cây dao có cán bằng nhựa màu đen kích thước 11,6cmx3,2cm, lưỡi dao bằng kim loại có kích thước 22cmx4cm; 01 thanh gỗ có kích thước dài 81,2cm, hai đầu có kích thước lần lượt là 03cmx1,7cm và 03cmx1,7cm.
(Tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tánh Linh).
Về án phí:
Căn cứ vào: Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Trần Đăng S phải nộp 200.000đ án phí hình sự, sung công quỹ Nhà nước.
Về quyền kháng cáo:
Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (27/12/2024) (đã giải thích quyền kháng cáo).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: + Cấp theo Điều 262 BLTTHS: - Bị cáo; bị hại; NCQLNVLQ. - VKSND huyện; - CQCSĐT C.A huyện; - Cơ quan THAHS - Công an huyện; - Nhà tạm giữ - CA huyện; - UBND xã Huy Khiêm (Thay T/B) ; - Sở TP T. Bình Thuận; - C.C T.H.A DS (khi án có HLPL); - Lưu án văn, HSVA; - Lưu VP. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Yến |