vanban.org

Bản án 86/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị S đối với bà Nguyễn Thị A về việc yêu cầu hoàn trả số tiền 64.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đỗ Thị S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Án xử sơ thẩm công khai, bà Đỗ Thị S, bà Nguyễn Thị A có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 23/8/2024). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Đỗ Thị S tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng với Nguyễn Thị A"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị S đối với bà Nguyễn Thị A về việc yêu cầu hoàn trả số tiền 64.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 2 Luật thi hành án Biên bản nghị án
HUYỆN THỦ THỪA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2024/DS-ST
Ngày: 23-8-2024
V/v tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA - TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Quân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Hằng.

2. Ông Nguyễn Hồng Phong.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Hằng –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 130/2024/TLST-DS ngày 10 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 128/2024/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

1.

Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị S, sinh năm 1942; Địa chỉ: ấp 5, xã A, huyện B, tỉnh Long An.

2.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1971; Địa chỉ: ấp 5, xã A, huyện B, tỉnh Long An.

3.

Người làm chứng: Ông Trần Khắc Ph, sinh năm 1973; Địa chỉ: 345/2 ấp 2, xã A1, huyện B, tỉnh Long An.

(Tất cả đương sự có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/3/2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Đỗ Thị S trình bày:

Nguyên vào năm 2018, bà S có chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị A một phần đất có chiều ngang khoảng 8m, chiều dài khoảng hơn 60m (diện tích khoảng 500m2) thuộc thửa đất số 950, tờ bản đồ số 4, loại đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc tại ấp 5, xã A, huyện B, tỉnh Long An. Hai bên thỏa thuận giá chuyển nhượng là 18.000.000 đồng trên 01m ngang ra giá chuyển nhượng là 154.000.000 đồng tuy nhiên bà Nguyễn Thị A chỉ mới giao cho bà S 90.000.000 đồng còn nợ lại 64.000.000 đồng thì bà A nói với bà S chờ làm thủ tục chuyển nhượng xong bà A sẽ đi vay Ngân hàng thì sẽ hoàn trả số tiền còn nợ 64.000.000 đồng cho bà S.

Việc giữa bà S và bà A thỏa thuận chuyển nhượng phần đất nêu trên với giá 18.000.000 đồng trên một mét ngang (tức giá chuyển nhượng là 154.000.000 đồng) thì hai bên chỉ nói miệng, không làm giấy tờ tay gì nên bà S không có giấy tờ thể hiện việc thỏa thuận này để cung cấp cho Tòa án.

Hiện nay bà Nguyễn Thị A đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất này thành thửa mới là thửa đất số 2071, tờ bản đồ số 4, diện tích 502m2, loại đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc tại ấp 5, xã A, huyện B, tỉnh Long An ngày 10/01/2019.

Bà S đã nhiều lần yêu cầu bà A hoàn trả lại số tiền chuyển nhượng 64.000.000 đồng nhưng không được.

Bà S có làm đơn gửi đến Ủy ban nhân dân xã Nhị Thành để yêu cầu giải quyết: Ngày 29/01/2024 Ủy ban nhân dân xã Nhị Thành tiến hành hòa giải cho hai bên nhưng không thành.

Do đó, nay bà S khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị A phải hoàn trả cho bà Đỗ Thị S số tiền chuyển nhượng đất còn thiếu là 64.000.000 đồng. Ngoài ra không ý kiến gì thêm.

Trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn bà Nguyễn Thị A trình bày:

Vào năm 2018 bà A có thỏa thuận để nhận chuyển nhượng 01 phần đất thuộc thửa đất số 950, tờ bản đồ số 4, loại đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc tại ấp 5, xã A, huyện B, tỉnh Long An của bà Đỗ Thị S. Tuy nhiên hai bên thỏa thuận giá chuyển nhượng là 180.000.000 đồng/1000m2 (loại đất cây lâu năm) chứ không phải tính giá chuyển nhượng là 18.000.000 đồng trên một mét ngang ra giá chuyển nhượng là 154.000.000 đồng như bà S trình bày, bà A nhận chuyển nhượng của bà S đối với diện tích diện tích 502m2 (thuộc một phần thửa đất 950), hai bên có tiến hành ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với phần đất này và được Văn phòng công chứng Thủ Thừa công chứng ngày 19/6/2018, trong hợp đồng thể hiện giá chuyển nhượng là 20.000.000 đồng để giảm đóng tiền thuế, phí chuyển nhượng đất.

Bà Nguyễn Thị A đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất này thành thửa mới là thửa đất số 2071, tờ bản đồ số 4, diện tích 502m2, loại đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc tại ấp 5, xã A, huyện B, tỉnh Long An vào ngày 10/01/2019. Từ khi nhận chuyển nhượng xong cho đến nay bà A đã nhận đất sử dụng và đã cất nhà tạm trên phần đất này. Bà A đã giao đủ số tiền 90.000.000 đồng cho bà S tương ứng phần diện tích 502m2, bà A trả số tiền này chia thành 03, 04 đợt rồi sau đó mấy tháng sau bà S mới ký hợp đồng chuyển nhượng cho bà A.

Nay bà A xác định hiện không còn nợ tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà S. Ngoài ra không ý kiến gì thêm

Người làm chứng ông Trần Khắc Ph trình bày: Ông là em của bà A, ông có hỗ trợ bà A khi nhận chuyển nhượng đất từ bà S nên ông biết khi bà A nhận chuyển nhượng đất của bà S hai bên thỏa thuận miệng giá chuyển nhượng một phần thửa đất số 950 là 180.000.000 đồng/1.000m2 (tức 90.000.000 đồng/500m2) loại đất cây lâu năm, các bên không thỏa thuận giá chuyển nhượng là 18.000.000 đồng/01 mét ngang. Khi thỏa thuận giá cả thì chỉ nói miệng không làm giấy tờ thể hiện giá cả chuyển nhượng. Ngoài ra không ý kiến gì thêm.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án có tiến hành hòa giải nhưng không thành. Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa đưa vụ án ra xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Bà Đỗ Thị S khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị A phải hoàn trả số tiền 64.000.000 đồng theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 19/6/2018 được Văn phòng công chứng Thủ Thừa công chứng ngày 19/6/2018 liên quan đến 01 phần đất thuộc thửa đất số 950 (thửa số mới là 2071), tờ bản đồ số 4, loại đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc tại ấp 5, xã A, huyện B, tỉnh Long An. Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa giải quyết theo thủ tục sơ thẩm. Căn cứ theo yêu cầu của đương sự xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải theo quy định tại Điều 205 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng không thành. Vụ án được đưa ra xét xử theo thủ tục chung.

Về nội dung tranh chấp: Bà Đỗ Thị S khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị A phải hoàn trả số tiền 64.000.000 đồng theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 19/6/2018 được Văn phòng công chứng Thủ Thừa công chứng ngày 19/6/2018.

Xét lời trình bày, yêu cầu của nguyên đơn, lời trình bày của bị đơn và tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy:

Ngày 19/6/2018, tại Văn phòng công chứng Thủ Thừa bà Đỗ Thị S và bà Nguyễn Thị A xác lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với phần đất có diện tích 502m2 thuộc một phần thửa đất số 950, tờ bản đồ số 04, loại đất cây lâu năm, đất tọa lạc tại ấp 5, xã A, huyện B, tỉnh Long An. Ngày 10/01/2019, bà Nguyễn Thị A được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 2071, tờ bản đồ số 4, diện tích 502m2, loại đất trồng cây lâu năm. Bà A đã nhận đất sử dụng và thanh toán số tiền 90.000.000 đồng cho bà S. Như vậy cho thấy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà S và bà A được xác lập theo đúng quy định pháp luật. Sau khi xác lập các bên đã thanh toán tiền, bà A đã được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đồng thời đã nhận đất và sử dụng ổn định gần 4 năm. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà Đỗ Thị S cho rằng giá chuyển nhượng là 18.000.000 đồng trên một mét ngang ra giá chuyển nhượng là 154.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị A đã thanh toán cho bà S 90.000.000 đồng còn nợ lại 64.000.000 đồng nhưng bà S không cung cấp được tài liệu chứng cứ để chứng minh cho lời trình bày của mình. Từ những nhận định nêu trên, yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị S đối với bà Nguyễn Thị A là không có cơ sở chấp nhận.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đỗ Thị S thuộc trường hợp được miễn tiền án phí và có đơn xin miễn tiền tạm ứng án phí và án phí nên căn cứ vào Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về lệ phí, án phí Tòa án miễn tiền án phí cho bà S.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, 266, 267, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 500 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về lệ phí, án phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị S đối với bà Nguyễn Thị A về việc yêu cầu hoàn trả số tiền 64.000.000 đồng.

2.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đỗ Thị S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

3.

Án xử sơ thẩm công khai, bà Đỗ Thị S, bà Nguyễn Thị A có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 23/8/2024).

4.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ