vanban.org

Bản án 86/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng Tuyên án 28/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Đắc Đ phải nộp 200.

Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đắc Độ - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Đắc Đ phải nộp 200.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86 /2023/HS-ST
Ngày 28-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm tại điểm cầu trung tâm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Ngọc Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Bùi Thuý Mở

Ông Doãn Văn Sáng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 74/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 77/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo tại điểm cầu thành phần Phòng xét xử trực tuyến - Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng:

Nguyễn Đắc Đ, sinh năm 1994 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số 31/41 ngõ 106 L, phường L, quận N, thành phố H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đắc T (đã chết) và bà Phạm Thị S (đã chết); chưa có vợ con;

Tiền sự: Không.

Tiền án: Có 03 tiền án, gồm:

- Bản án số 54/2016/HSST ngày 22/4/2016 của TAND quận Lê Chân xử phạt 15 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản, giá trị tài sản trộm cắp là 2.500.000 đồng, thời hạn tù tính từ ngày 22/01/2016, đã thi hành xong án phí hình sự ngày 30/8/2017 (chưa xoá án tích).

- Bản án số 78/2017/HSST ngày 07/9/2017 của TAND quận Ngô Quyền xử phạt 18 tháng tù giam về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, giá trị tài sản 2.000.000 đồng, thời hạn tù tính từ ngày 15/6/2017, đã thi hành án phí ngày 10/01/2018 (chưa xoá án tích).

- Bản án số 101/2019/HSST ngày 12/8/2019, TAND quận Lê Chân xử phạt Nguyễn Đắc Đ 48 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, thời hạn tù tính từ ngày 02/01/2019. Ngày 02/01/2023 chấp hành xong án phạt tù. Đã thi hành án phí hình sự 200.000 đồng và nộp lại số tiền 125.000 đồng, còn phải nộp lại số tiền 11.275.000 đồng (chưa xoá án tích).

Bị tạm giữ từ ngày 13/3/2023 đến ngày 21/3/2023 chuyển tạm giam; có mặt.

- Điểm cầu thành phần tại Phòng xét xử trực tuyến - Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng còn có:

Bà Nguyễn Thị Liễu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên.

Ông Phạm Thế Duyệt - Kiểm tra viên Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên.

Các ông Nguyễn Quang Duy, Vũ Biên Cương, Phạm Sơn Nguyên, Lê Đức Anh, Hoàng Đắc Tài - Cán bộ Đội cảnh sát hỗ trợ tư pháp Công an huyện Thủy Nguyên.

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1972; nơi cư trú: Thôn 7, xã Q, huyện T, thành phố H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 19 giờ 00 phút ngày 12/3/2023 tại thôn 7, xã Q, huyện T, thành phố H, Nguyễn Đắc Đ có hành vi lợi dụng sơ hở, lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7 plus, màu vàng, ốp bên ngoài màu xanh của chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1972, nơi cư trú: thôn 7, xã Q, T, H, bị quần chúng nhân dân phát hiện bắt quả tang, bàn giao cho Công an xã Quảng Thanh giải quyết.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Đắc Đ khai nhận: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 12/3/2023, Độ đến nhà nghỉ 999 thuộc thôn 7, xã Q, huyện T, thành phố H (do anh Phạm Văn C, sinh năm 1971, cùng trú tại địa chỉ trên làm chủ) thuê phòng nghỉ 104. Đến khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày, Đ rời khỏi phòng xuống quầy lễ tân để thanh toán tiền, khi đi qua phòng nghỉ 101 thấy cửa phòng mở, bên trong có tiếng chuông điện thoại nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt. Lợi dụng lúc anh C đang tính tiền, không có ai để ý, Đ đã đi vào phòng 101, lén lút lấy chiếc điện thoại Iphone 7 plus màu vàng đang sạc pin ở cạnh tường, cất giấu vào túi quần rồi đi về phòng 104 lấy áo khoác và đi thẳng ra cửa thì bị anh C gọi lại. Sợ hành vi của mình bị phát hiện nên Đ bỏ chạy, anh C truy hô và cùng mọi người đuổi theo bắt giữ Đ cùng vật chứng là chiếc điện thoại Iphone 7 plus đưa về Cơ quan Công an giải quyết.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 19/KL-HĐĐGTS ngày 13/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự huyện Thủy Nguyên kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, màu vàng, đã qua sử dụng có giá trị là 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng).

Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị H đã nhận lại tài sản 01 chiếc điện thoại Iphone 7 plus và không yêu cầu gì đối với bị cáo.

Tại Bản Cáo trạng số 91/CT-VKS ngày 29/5/2023, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng đã truy tố Nguyễn Đắc Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Đắc Đ khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

Bị hại Nguyễn Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, bị hại đã có lời khai trong hồ sơ thể hiện bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm.

Quan điểm của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Đắc Đ với mức án từ 36 tháng tù đến 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền; bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về tài liệu, chứng cứ Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, Kiểm sát viên thu thập; bị cáo, những người tham gia tố tụng khác cung cấp đều được thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về những tài liệu chứng cứ đã được thu thập, cung cấp. Do đó, những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thủy Nguyên, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, khẳng định: Ngày 12/3/2023, tại nhà nghỉ 999, ở thôn 7, xã Quảng Thanh, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản, Nguyễn Đắc Đ đã lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, màu vàng, trị giá 2.500.000 đồng của chị Nguyễn Thị H, bị bắt quả tang. Hành vi của Nguyễn Đắc Đ đủ cơ sở cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo Nguyễn Đắc Đ có 03 tiền án đều chưa được xoá án tích nên phải chịu tình tiết định khung hình phạt là “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần buộc bị cáo cách ly xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục, răn đe, đáp ứng yêu cầu phòng ngừa tội phạm chung.

- Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo hộ, gây mất trật tự trị an.

- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

[5] Bị cáo Độ không bị áp dụng tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; bị cáo có ông nội được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt bổ sung:

Do bị cáo không có thu nhập ổn định và tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

- Về trách nhiệm dân sự:

Chị Nguyễn Thị H đã nhận lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, màu vàng và không yêu cầu gì đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Đắc Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Đắc Đ 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt ngày 12 tháng 3 năm 2023.

- Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Đắc Đ phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo:

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ