vanban.org

Bản án 86/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Qui Nhơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 06/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Minh U phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: 1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01.3.2023.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T cùng đồng phạm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Minh U phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUY NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2023/HS-ST
Ngày: 06-6-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đình Hưng

Các hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Phối và bà Phạm Thị Tú Nga

- Thƣ ký phiên tòa: Bà Đặng Văn Phương Nhi - Thư ký của Toà án nhân dân Tp. Quy Nhơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Ông Bùi Thế Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 78/2023/TLST-HS ngày 05/5/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2023/QĐXXST-HS ngày 25/5/2023 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Văn T, giới tính: Nam; sinh năm 1994 tại Tuy Phước, Bình Định; Nơi cư trú: Thôn C, xã P, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Không rõ và bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1968; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Ngày 08/9/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, Bình Định xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 21/6/2022; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 25/9/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, Bình Định xử phạt 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong ngày 27/4/2015; Bị bắt tạm giam từ ngày 01/3/2023 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ - Công an TP. Quy Nhơn. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Minh U, giới tính: Nam; sinh năm 1996 tại Tuy Phước, Bình Định; Nơi cư trú: Thôn C, xã P, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Nông; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn Đ, đã chết và bà: Nguyễn Thị X, sinh năm 1971; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 21/5/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Vân Canh, Bình Định xử phạt 01 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong ngày 30/01/2016; Bị bắt tạm giam từ ngày 01/3/2023 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ - Công an TP. Quy Nhơn. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Bùi Văn V, sinh năm 1985 (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Xóm X, thôn T, xã Phước Mỹ, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Người làm chứng: Ông Lê Thái K, anh Đặng Văn H, bà Nguyễn Thị Mỹ L, chị Nguyễn Thị Hồng L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Với mục đích cần tiền tiêu xài cá nhân nên sáng ngày 10/11/2022, Nguyễn Văn T đi bộ từ nhà mình đến nhà Nguyễn Minh U ở gần đó để rủ U đi dạo xem nhà dân có nuôi chim cảnh sơ hở, không ai trông coi thì vào lấy trộm. Nguyễn Minh U đồng ý và lấy xe mô tô biển số 77L1-459.25 đưa cho Nguyễn Văn T điều khiển chở Nguyễn Minh U ngồi sau. Đến khoảng 10 giờ 00 cùng ngày, khi đi ngang qua nhà anh Bùi Văn V tại thôn T, xã P, TP. Quy Nhơn, Nguyễn Văn T phát hiện cổng trước nhà của anh V không đóng, bên trong sân có treo một lồng chim chào mào nên nảy sinh ý định trộm cắp. Nguyễn Văn T chở Nguyễn Minh U đi qua đi lại nhà anh V 02 lần để thăm dò rồi dừng xe mô tô trước nhà anh V, Nguyễn Văn T đứng ngoài cảnh giới. Nguyễn Minh U xuống xe, chạy vào sân nhà lén lút lấy trộm 01 lồng chim bên trong có 01 con chim chào mào. Sau khi lấy được lồng chim, U ra xe để T chở rời đi. Ngày 15/11/2022, anh Bùi Văn V đến Công an xã P, TP. Quy Nhơn trình báo sự việc bị mất trộm tài sản và giao nộp đĩa DVD có đoạn video ghi lại hành vi của Nguyễn Văn T và Nguyễn Minh U được trích xuất từ camera tại nhà anh V.

Công an xã Phước Mỹ tiến hành xác minh ban đầu, làm việc với 02 đối tượng T và U. Tại đây, T và U đã khai nhận thực hiện hành vi trộm cắp như trên và đã giao nộp 01 lồng chim gỗ nan tre kích thước (37x37x40)cm là tang vật vụ trộm, còn con chim chào mào bay mất không thu hồi được. Công an xã Phước Mỹ chuyển hồ sơ đến Cơ quan CSĐT Công an TP. Quy Nhơn để xử lý theo thẩm quyền.

Ngày 10/01/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự TP. Quy Nhơn kết luận:

+ 01 con chim chào mào 03 năm tuổi, lông xám, bụng trắng, mào đen, loại thân nhỏ, chiều dài thân và đuôi 18 cm, trị giá 2.500.000 đồng.

+ 01 lồng chim gỗ nan tre kích thước (37x37x40)cm, đã qua sử dụng, trị giá 500.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản Nguyễn Văn T, Nguyễn Minh U chiếm đoạt là 3.000.000 đồng.

Vật chứng thu giữ của vụ án gồm:

+ 01 lồng chim gỗ nan tre kích thước (37x37x40)cm, đã qua sử dụng.

+ 01 xe mô tô biển số 77L1-459-25, nhãn hiệu Yamaha, màu xanh đen, số máy 5C6H048083, số khung C6H0EY048068, đã qua sử dụng.

+ 01 đĩa DVD có đoạn video ghi lại diễn biến vụ trộm.

Về dân sự: Nguyễn Văn T và Nguyễn Minh U đã mua lại con chim chào mào và lồng chim khác đem đến trả lại cho bị hại Bùi Văn V. Bị hại V không có yêu cầu bồi thường hay khiếu nại gì.

Tại bản cáo trạng số 85/CT-VKSQN ngày 04/5/2023 Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn truy tố các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Minh U về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Minh U thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Minh U theo Cáo trạng.

- Về hình phạt:

Bị cáo Nguyễn Văn T: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 12 tháng đến 18 tháng tù.

Bị cáo Nguyễn Minh U: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh U từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

- Về bồi thường thiệt hại: Bị hại Bùi Văn V đã nhận lại con chim chào mào và lồng chim khác do các bị cáo bồi thường, bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.

- Về xử lý vật chứng, đề nghị HĐXX:

Tịch thu tiêu hủy 01 lồng chim gỗ nan tre kích thước (37x37x40)cm, đã qua sử dụng.

Tịch thu sung vào ngân sách nước 01 xe mô tô biển số 77L1-459.25, của bị cáo Nguyễn Minh U do sử dụng làm phương tiện phạm tội.

Bị cáo tự bào chữa: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Minh U thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.

Bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Minh U xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Quy Nhơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Do cần tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo Nguyễn Nguyễn Văn T rủ bị cáo Nguyễn Minh U dùng xe mô tô đi dạo xem ai sơ hở thì trộm cắp tài sản. Vào ngày 10/11/2022, các bị cáo Nguyễn Nguyễn Văn T, Nguyễn Minh U lén lút vào sân nhà anh Bùi Văn V ở thôn T, Phước Mỹ, TP. Quy Nhơn chiếm đoạt 01 con chim chào mào 03 năm tuổi trị giá 2.500.000 đồng; 01 lồng chim gỗ nan tre trị giá 500.000 đồng; tổng giá trị tài sản các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Minh U chiếm đoạt là 3.000.000 đồng.

Các bị cáo Nguyễn Văn T Nguyễn Minh U có đủ sức khỏe, năng lực để nhận thức và điều khiển hành vi của mình, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên phải biết trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Do tham lam, xem thường pháp luật, muốn có tiền tiêu xài mà không chịu lao động chân chính, các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Minh U đã lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại Bùi Văn V có tổng trị giá 3.000.000 đồng. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn truy tố các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Minh U về tội “Trộm cắp tài sản” quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.

Đây là vụ án đồng phạm, tuy nhiên các bị cáo chưa có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ với nhau, nên vụ án này phạm tội mang tính chất giản đơn, không thuộc trường hợp phạm tội “có tổ chức”. Trong đó bị cáo Nguyễn Văn T là người rủ rê, lôi kéo đồng bọn phạm tội, đứng ngoài cảnh giới cho bị cáo Nguyễn Minh U thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo Nguyễn Minh U là người thực hiện tội phạm, bị cáo đã lén lút chạy vào sân nhà bị hại Bùi Văn V để lấy trộm tài sản nên xử phạt tương xứng với hành vi của từng bị cáo đã gây ra.

Hành vi do các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự nên phải xử phạt nghiêm, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo thì thấy rằng:

5.1 Đối với bị cáo Nguyễn Văn T:

Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Văn T có nhân thân xấu vì bị Tòa án đưa ra xét xử về tội “trộm cắp tài sản”, “cố ý gây thương tích”.

Về tình tiết tăng nặng: Tại bản án số 41/2021/HSST ngày 08/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bịnh Định xử phạt bị cáo 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này với tình tiết tăng nặng trách niệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Văn T khai báo thành khẩn, bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại Bùi Văn V, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo an tâm cải tạo tốt.

5.2 Đối với bị cáo Nguyễn Minh U:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, vì bị Tòa án xét xử về tội “Cướp giật tài sản”.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại Bùi Văn V, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo an tâm cải tạo tốt.

Về bồi thường thiệt hại: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Minh U đã mua lại con chim chào mào và lồng chim khác bồi thường cho bị hại Bùi Văn V, bị hại V không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra đã thu giữ 01 lồng chim gỗ nan tre kích thước (37x37x40)cm và 01 xe mô tô biển số 77L1-459.25, nhãn hiệu Yamaha, màu xanh đen. Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với lồng chim các bị cáo trộm cắp của bị hại Bùi Văn V, tuy nhiên các bị cáo đã mua lại lồng chim và con chim khác bồi thường cho bị hại, lẽ ra lồng chim này được trả lại cho 02 bị cáo nhưng 02 bị cáo không nhận lại, lồng chim có giá trị không lớn nên tịch thu tiêu hủy. Đối với xe mô tô biển số 77L1-459.25, xe này do bà Nguyễn Thị Mỹ L mua và đứng tên đăng ký, sau đó bà L cho chị Nguyễn Thị Hồng L là con gái bà L, do mẹ con nên không chuyển tên đăng ký sang cho chị L. Sau đó, chị L đem đi cầm cố, vì không đủ tiền chuộc lại nên chị L nhờ Lê Thành D chuộc xe ra và bán lại xe cho D. Sau khi sử dụng, D đem xe mô tô trên đi cầm cố rồi nhờ bị cáo Nguyễn Minh U chuộc xe ra và bán lại xe trên cho bị cáo U. Xe mô tô biển số 77L1-459.25 bị cáo U sở hữu hợp pháp, bị cáo sử dụng xe này làm phương tiện phạm tội, xe có giá trị kinh tế nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Minh U bị kết án về tội: “Trộm cắp tài sản” nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, áp dụng cho bị cáo Nguyễn Văn T.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, áp dụng cho bị cáo Nguyễn Minh U.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Minh U phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt:

2.1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01.3.2023.

2.2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh U 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01.3.2023.

3. Xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 lồng chim gỗ nan tre kích thước (37x37x40)cm, đã qua sử dụng.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (Một) xe mô tô biển số 77L1-459.25, nhãn hiệu Yamaha, màu xanh đen, số máy 5C6H048083, số khung C6H0EY048068, đã qua sử dụng.

Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10/5/2023 của Chi cục thi hành án dân sự TP. Quy Nhơn.

4. Án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Minh U mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Cỡ chữ