- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Hoàng D - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Hoàng D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 86/2023/HS-ST Ngày: 04-4-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Cúc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hữu Long
Bà Nguyễn Thị Loan
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Tinh – C/v: Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 61/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đặng Hoàng D
Sinh ngày 26 tháng 8 năm 1993; Tại: LĐ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn 2, xã H, huyện L1, tỉnh L; Nơi ở: Không nơi ở nhất định. Nghề nghiệp: Cơ khí; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Đình L và con bà Nguyễn Thị Kim T. Bị cáo có vợ là Phạm Hằng N và 02 con, con lớn sinh năm 2015 và con nhỏ sinh năm 2019.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/2/2023 tại nhà tạm giữ Công an thành phố Buôn Ma Thuột, hiện đang giam – có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Ông Trịnh Văn C, sinh năm 1988
Nơi cư trú: Thôn 3, xã H, thành phố B, tỉnh Đ. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đặng Hoàng D sinh năm 1993, thường trú tại thôn 2, xã H, huyện L1, tỉnh L. Khoảng 3 giờ ngày 03/8/2022, D đi bộ từ Quảng trường 10/3, thành phố B về phòng trọ của mình, ở địa chỉ thôn 2, xã E, thành phố B. Khi D đi đến ngôi nhà đang xây, ở địa chỉ 41 đường N, phường T, thành phố B, thấy cửa chính chỉ che tấm bạt màu trắng phía trước nên D đã đi vào nhà, thì phát hiện anh Trịnh Văn C, trú tại thôn 3, xã H, thành phố B đang nằm ngủ trên nền nhà, cách khoảng 01 mét có để 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng, ốp lưng bằng nhựa trong. Lúc này, D đã đi đến lén lút trộm cắp chiếc điện thoại của anh C rồi tẩu thoát. Sau khi trộm cắp được tài sản, D đi đến khu vực cây cầu (chưa rõ địa điểm cụ thể) thuộc xã T, thành phố B, tháo ốp nhựa và sim điện thoại vứt xuống suối, còn điện thoại D mang về phòng trọ cất giấu tìm nơi tiêu thụ. Còn anh C khi phát hiện bị mất tài sản, anh C đã làm đơn trình báo gửi Công an phường T, thành phố B để xử lý.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 156/KL-HĐĐGTS ngày 26/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 01 Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu vàng, dung lượng 128Gb, trị giá là 17.000.000 đồng; 01 ốp lưng điện thoại bằng nhựa trong của điện thoại Iphone 12 Promax, trị giá 30.000 đồng. Tổng trị giá tài sản trộm cắp là 17.030.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số: 84/CT-VKS-HS ngày 09/3/2023 Viện kiểm sát nhân dân Thành phố B đã truy tố Đặng Hoàng D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Hoàng D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột đã phân tích, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đặng Hoàng D phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h,i,s khoản 1 Điều 51, của Bộ luật hình sự; Đề nghị xử phạt bị cáo Đặng Hoàng D mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù giam.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột trao trả 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu vàng, dung lượng 128 Gb cho anh Trịnh Văn C nhận quản lý sử dụng.
Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì, chỉ đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Xét thấy tại cơ quan điều tra bị hại, Trịnh Văn C đã có lời khai đầy đủ, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng tới quá trình giải quyết vụ án. Do đó căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị hại.
Về nội dung:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo khoảng 03 giờ 40 phút ngày 03/8/2022 tại ngôi nhà đang xây, ở địa chỉ 41 đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đ bị cáo Đặng Hoàng D đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của anh Trịnh Văn C gồm: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng và 01 ốp lưng bằng nhựa trong, tổng trị giá tài sản là 17.030.000 đồng. Hành vi của bị cáo Đặng Hoàng D đã đủ yếu tố cấu thành vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Xét tính chất mức độ hành vi của bị cáo Đặng Hoàng D gây ra là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, trật tự công cộng, mà còn gây mất trật tự an ninh tại địa phương. Bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức được hành vi xâm phạm tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác đều sẽ bị pháp luật trừng trị. Song do ý thức coi thường pháp luật, muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động nên bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội của mình. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 17.030.000 đồng. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi mà bị cáo gây ra, và cần thiết buộc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ nghiêm mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Hội đồng xét xử xét thấy, tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i,h,s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, nên cần cân nhắc xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách nhân đạo khoan hồng của pháp luật nhà nước ta.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự
Trong quá trình điều tra anh Trịnh Văn C đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về trách nhiệm dân sự. Do đó ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột trao trả 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu vàng, dung lượng 128 Gb cho anh Trịnh Văn C nhận quản lý sử dụng.
Về án phí: Bị cáo Đặng Hoàng D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đặng Hoàng D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i,h,s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Đặng Hoàng D 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 03/02/2023.
* Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự
Ghi nhận sự tự nguyện anh Trịnh Văn C đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo Đặng Hoàng D phải bồi thường.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột trao trả 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu vàng, dung lượng 128 Gb cho anh Trịnh Văn C nhận quản lý sử dụng.
* Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Đặng Hoàng D phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm ngày) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT 1 – TAND TC; - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND Tp. Buôn Ma Thuột; - Công an Tp. Buôn Ma Thuột; - Thi hành án phạt tù (để thi hành); - Chi cục THADS Tp. Buôn Ma Thuột; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - Bị cáo, các đương sự; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Kim Cúc |