- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? I. Tuyên bố bị cáo Phạm Anh Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, TP.ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 86/2023/HS-ST Ngày 27-7-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hà
Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hằng
Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Tâm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
PHẠM ANH Q, tên gọi khác: Sọ; Giới tính: Nam.
Sinh ngày 12/11/1991 tại tỉnh Quảng Nam.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: 83 đường T, phường A, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
Trình độ văn hóa: 9/12.
Nghề nghiệp: Lao động phổ thông.
Con ông: Phạm Văn H (sinh năm 1965) và bà Phan Thị H1 (sinh năm 1969). Gia đình có hai anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Có 01 vợ là Bùi Thị Thanh N (sinh năm 1991, đã ly hôn) và 02 con (lớn nhất sinh năm 2015 và nhỏ nhất sinh năm 2017).
Tiền án: Không;
Tiền sự: Quyết định số 19/2020/QĐ-TA ngày 22/5/2020 của TAND quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở xã hội B, thành phố Đà Nẵng để cai nghiện bắt buộc (chấp hành xong ngày 04/02/2021);
Nhân thân:
- Quyết định số 33/QĐ-CAP ngày 18/6/2018 của Công an phường D, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý" (chấp hành xong);
- Quyết định số 23/2018/QĐ-TA ngày 18/9/2018 của TAND quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở xã hội B, thành phố Đà Nẵng để cai nghiện bắt buộc (chấp hành xong ngày. 24/5/2019);
- Quyết định số 3221/QĐ-UBND ngày 21/4/2008 của UBND thành phố Đà Nẵng tập trung vào Trung tâm Giáo dục Dạy nghề X thành phố Đà Nẵng (cai nghiện, giáo dục, dạy nghề), thời hạn 12 tháng;
- Quyết định số 685/QĐ-UBND ngày 25/01/2010 của UBND thành phố Đà Nẵng tập trung vào Trung tâm Giáo dục Dạy nghề X thành phố Đà Nẵng (cai nghiện, giáo dục, dạy nghề), thời hạn 06 tháng;
- Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2010/HSST ngày 14/9/2010 của TAND quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chấp hành xong ngày 29/11/2011);
- Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2013/HSST ngày 25/11/2013 của TAND quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản" (sử dụng bản án số 75/2010/HSST làm yếu tố định tội nên không áp dụng tình tiết tăng nặng “tái phạm”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/4/2014; được miễn án phi hình sự sơ thẩm theo Quyết định miễn thi hành án số 05/MG-THS-ST ngày 17/9/2020 của TAND quận Thanh Khê).
Bị cáo bắt tạm giữ, tạm giam ngày 19/12/2022. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận Hải Châu, có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Anh Lê Hoàng Tấn P, sinh năm 1999; Địa chỉ: K307/6A đường M, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Lê Hoàng Duy P1, sinh năm 1996; Địa chỉ: K307/6A đường M, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Hoàng Kim P2 (sinh năm 1994, HKTT: K307/6A đường M, phường N, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng) mượn xe mô tô của Phạm Anh Q nhưng không trả đúng hẹn. Khoảng 13h50 ngày 19/9/2022. Q mượn xe mô tô hiệu Mio Classico màu xanh (không rõ biển số) của H2 (chưa xác định được nhân thân, lại lịch) và lấy từ nhà mình 01 con dao cất giấu cốp xe rồi điều khiển xe đi đến nhà số K307/6A đường M, thành phố Đà Nẵng để tìm P2. Khi đến nơi, Q dựng xe trước cửa nhà rồi đi vào phòng khách. Lúc này, Lê Hoàng Tấn P là em ruột của P2 đang nằm ngủ tại ghế salon trong phòng khách, P nghe tiếng có người đến thì ngồi dậy gặp Q. Q hỏi P2 đâu? P trả lời là không biết, điện thoại hết tiền nên không gọi được cho P2. Do nghĩ P bao che cho P2 nên Q dùng chân phải đá vào vùng hàm bên trái của P 01 cái rồi ra ngoài mở cốp xe lấy dao quay vào, tiến đến chỗ P đang ngồi cúi đầu trên ghế salon; tay phải Q cầm dao dí vào vùng trán P, trong lúc P ngẩng đầu lên thì bị 01 vết thương gây chảy máu ở vùng trán. Q tiếp tục dùng tay trái túm cổ áo P tay phải cầm dao kẻ vào vùng trán P gây 01 vết thương xây xát da (gần sát với vết thương chảy máu ban đầu). Lúc này, thấy P bị thương, máu từ trán chảy xuống nhưng không chống cự lại, nên Q buông P ra. Sau đó, Q mang dao ra ngoài cắt vào cốp xe máy rồi quay vào dẫn P vào phòng vệ sinh rửa vết thương, Q xin lỗi P và nói sẽ chịu viện phí cho P. Khi P đang rửa vết thương thì có Lê Hoàng Duy P1 là anh trai của P từ tầng 02 đi xuống, thấy P bị thương nên hỏi chuyện, Q nói với P1 là vì mâu thuẫn với P2 nên gây thương tích cho P rồi bỏ đi. Sau khi đưa P vào bệnh viện điều trị, P1 đến Công an phường N trình báo sự việc. Quá trình điều tra, Phạm Anh Q bỏ đi khỏi địa phương. Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu đã ra Quyết định truy nã số 07 ngày 14/12/2022. Ngày 19/12/2022, Q đến Phòng Cảnh sát hình sự Công an thành phố Đà Nẵng đầu thú.
Vật chứng thu giữ: 01 Con dao dài 37cm, phần lưỡi dao dài khoảng 27cm làm bằng kim loại màu đen; sống dao dài 27cm, lưỡi cắt dài 20cm; mũi dao vát nhọn thành hình tam giác; bản đao rộng 4cm; phần cán dao hình trụ tròn dài 10cm được làm bằng gỗ màu đen; do Phạm Anh Q tự nguyện giao nộp; 01 Đĩa CD chứa đoạn video từ camera an ninh do Công an phường N quản lý, ghi lại hình ảnh khoảng 13h50' ngày 19/9/2022, Phạm Anh Q điều khiển xe mô tô đến trước nhà K307/6A đường M, thành phố Đà Nẵng rồi mở cốp xe lấy 01 con dao chạy vào nhà.
Theo Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 271/TgT ngày 24.10.2022 của Trung tâm Pháp y- Sở Y tế, thành phố Đà Nẵng đối với Lê Hoàng Tấn P, kết luận:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Chấn thương gãy xương hàm dưới vùng góc hàm trái đã điều trị phẫu thuật kết hợp xương. Hiện tại mặt cân xứng, khớp cắn đúng, há miệng tốt, nạn nhân khai ăn nhai còn đau vùng hàm trái.
- Tổn thương vùng trán trái (H1) như đã nêu trên (Vùng trán trái sát chân tóc có vết thương đã lành tạo sẹo, mép gọn, kích thước: 1,5cm x 0,1cm; sát với vết này về bên trái có vết thương đã lành màu gần trùng với màu da, kích thước: 0,8cm x 0,1cm).
2. Theo Thông tư số 22/2010/TT-BYT ngày 28/8/2014 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 12% (mười hai phần trăm).
Xử lý vật chứng:
- Chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu bảo quản trong giai đoạn xét xử và thi hành án: 01 con dao dài 37cm, phần lưỡi dao dài 27cm làm bằng kim loại màu đen; sống dao dài 27cm, lưỡi cắt dài 20cm, mũi dao vát nhọn thành hình tam giác, bán dao rộng 4cm; phần cán dao hình trụ tròn dài 10cm được làm bằng gỗ màu đen; do Phạm Anh Q tự nguyện giao nộp.
- Lưu giữ theo hồ sơ vụ án: 01 đĩa CD chứa đoạn video từ camera an ninh do Công an phường N quản lý, ghi lại hình ảnh khoảng 13h30 ngày 19/9/2022, Phạm Anh Q điều khiển xe mô tô đến trước nhà K3076A đường M, thành phố Đà Nẵng rồi mở cốp xe lấy 01 con dao chạy vào nhà.
Về dân sự: Phạm Anh Q đã tự thoả thuận bồi thường theo yêu cầu của bị hại Lê Hoàng Tấn P số tiền 12.000.000 đồng. Đến nay, Q và gia đình đã bồi thường xong số tiền 12.000.000đ.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước giữ nguyên quan điểm đã truy tố, đề nghị HĐXX căn cứ vào tính chất vụ án, nhân thân, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Phạm Anh Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
Áp dụng: Điểm đ khoản 2 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, i khoản 1) Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Phạm Anh Q mức án từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong và người bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 để xử lý tang vật vụ án:
- Tịch thu và tiêu hủy 01 con dao dài 37cm, phần lưỡi dao dài 27cm làm bằng kim loại màu đen; sống dao dài 27cm, lưỡi cắt dài 20cm, mũi dao vát nhọn thành hình tam giác, bán dao rộng 4cm; phần cán dao hình trụ tròn dài 10cm được làm bằng gỗ màu đen.
- Lưu trữ tại hồ sơ vụ án: 01 đĩa CD chứa đoạn video từ camera an ninh do Công an phường N quản lý, ghi lại hình ảnh khoảng 13h30 ngày 19/9/2022, Phạm Anh Q điều khiển xe mô tô đến trước nhà K3076A đường M, thành phố Đà Nẵng rồi mở cốp xe lấy 01 con dao chạy vào nhà.
Bị cáo Phạm Anh Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu đã truy tố và không có ý kiến tranh luận gì với phần luận tội của Kiểm sát viên.
Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Khoảng 13 giờ 50 phút ngày 19 tháng 9 năm 2022, tại nhà số K307/6A đường M, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, Phạm Anh Q đã có hành vi dùng chân phải đá vào vùng hàm bên trái của P dùng 01 con dao kim loại dài khoảng 37cm dí và kê vào vùng trán của Lê Hoàng Tấn P gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12%.
Mặc dù người bị hại và bị cáo không quen biết, không có mâu thuẫn gì với các bị cáo nhưng với bản tính côn đồ và sử dụng hung khí nguy hiểm bị cáo Q đã dùng chân đá vào vùng hàm bên trái và sử dụng dao dí và kê vào vùng trán gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ 12% (Mười hai phần trăm). Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự, thuộc trường hợp “dùng hung khí nguy hiểm” và “có tính chất côn đồ” quy định tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự như bản Cáo trạng số 58/CT-VKS ngày 13/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án, mức độ, hành vi phạm tội bị cáo thì thấy:
Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Anh Q đã thể hiện sự manh động, liều lĩnh, côn đồ, coi thường pháp luật, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an xã hội tại địa phương. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, từng đi chấp hành án nhiều lần nhưng không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục phạm tội. Hội đồng xét xử thấy cần phải quyết định một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm mục đích răn đe và giáo dục.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Phạm Anh Q đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú. Bản thân bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho người bị hại và người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình bị cáo đã bồi thường xong, người bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 con dao dài 37cm, phần lưỡi dao dài 27cm làm bằng kim loại màu đen; sống dao dài 27cm, lưỡi cắt dài 20cm, mũi dao vát nhọn thành hình tam giác, bán dao rộng 4cm; phần cán dao hình trụ tròn dài 10cm được làm bằng gỗ màu đen là công cụ phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với 01 đĩa CD chứa đoạn video từ camera an ninh do Công an phường N quản lý ghi nhận vụ việc cần được lưu trữ trong hồ sơ vụ án.
Về án phí: Theo quy định tại Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án thì các bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Xét các đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm Sát tại phiên tòa hôm nay là phù hợp pháp luật.
Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục pháp luật quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
I. Tuyên bố bị cáo Phạm Anh Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Anh Q 04 (bốn) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 19/12/2022.
II. Về xử lý vật chứng:
- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao dài 37cm, phần lưỡi dao dài 27cm làm bằng kim loại màu đen; sống dao dài 27cm, lưỡi cắt dài 20cm, mũi dao vát nhọn thành hình tam giác, bán dao rộng 4cm; phần cán dao hình trụ tròn dài 10cm được làm bằng gỗ màu đen.
(Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 20.6.2023).
- Lưu trữ tại hồ sơ vụ án 01 đĩa CD chứa đoạn video từ camera an ninh do Công an phường N quản lý ghi nhận vụ việc.
III. Án phí hình sự sơ thẩm:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Phạm Anh Q phải chịu 200.000đ.
IV. Người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các điều 6,7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi Hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu; - Viện kiểm sát nhân dân TP Đà Nẵng; - Công an quận Hải Châu; - Chi cục THADS quận Hải Châu; - Cơ quan THAHS quận Hải Châu; - Trại tạm giam Công an TP Đà Nẵng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Ngọc Hà |