- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Hữu Vũ L phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN ¯¯¯¯¯¯¯¯¯ | CỘNG HÒA Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 86/2023/HS-PT Ngày: 13-7-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Trần Quốc Khánh
Các Thẩm phán:Ông Dương Ngọc Thành
Ông Trần Văn Quán
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hồng Nhật Châu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 62/2023/TLPT-HS ngày 12 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo Đặng Hữu Vũ L do có kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2023/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An.
- Bị cáo bị kháng cáo: Đặng Hữu Vũ L, sinh ngày 18/11/1996, tại tỉnh Long An; Nơi thường trú: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Hữu T và bà Lê Thị N; Chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Công ty Trách nhiệm hữu hạn V1; Địa chỉ: Số A, ấp M, xã M, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn Q - Chủ tịch Hội đồng thành viên - Giám đốc.
- Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị H - Phó Giám đốc. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Mai Phước H1, sinh năm 1981; Địa chỉ: Số D, ấp Đ, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre. (có mặt)
2. Lê Anh K, sinh năm 2003; Địa chỉ: Số F, ấp B, xã S, huyện C, tỉnh Tiền Giang. (vắng mặt)
3. Phạm Tấn D, sinh năm 1988; Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. (vắng mặt)
4. Lê Văn T1, sinh năm 1984; Địa chỉ: Ấp M, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang. (vắng mặt)
5. Lê Thị Út H2, sinh năm 1977; Địa chỉ: Số C đường Q, Khu phố A, Phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. (vắng mặt)
6. Đặng Minh K1, sinh năm 2000; Địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Long An. (vắng mặt)
7. Đặng Hữu H3, sinh năm 1980; Địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Long An. (có mặt)
8. Lý Công H4, sinh năm 1997; Địa chỉ: Ấp K, xã T, huyện M, tỉnh Long An. (vắng mặt)
9. Đặng Thanh V, sinh năm 1986; Địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Long An. (vắng mặt)
10. Trình Văn L1, sinh năm 2004; Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Long An. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 11/5/2022, ông Mai Phước H1 điều khiển xe ô tô tải biển số: 63C-089.44, cùng phụ xế tên Lê Anh K, đến giao hàng (nước ngọt) cho cửa hàng “Kim Tuyền” ở khu phố C, thị trấn T, huyện T cho công ty trách nhiệm hữu hạn V1 (gọi tắt là Công ty V1). Sau khi giao hàng xong, khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, H1 điều khiển xe ô tô tải biển số 63C-089.44 đi về theo đường tỉnh lộ 829, điều khiển xe đi vòng lên Quốc lộ N, chạy đến sân trước quán “Y" thuộc ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Long An, để quay đầu xe, khi quay đầu xe có chạy xe vào phần sân của quán “Yến C”. Lúc này, anh Đặng Minh K1 trong quán chạy ra báo không cho quay đầu xe vì sợ lún sân. Ông H1 và phụ xe không nghe rõ nên tiếp tục quay đầu xe nên K1 nhảy lên dùng tay phải nắm kính chiếu hậu bên phải xe (bên lơ xe) kêu dừng lại nói chuyện, ông H1 không trả lời mà bật kính chắn gió bên phải lên. K1 tức giận dùng tay trái đấm vào kính chắn gió bên phải làm vỡ kính, K1 bị trượt tay té xuống đất bị bánh xe cán trúng bàn chân trái. Tài xế H1 tiếp tục điều khiển xe chạy về hướng cầu K, Quốc lộ N. Khoa được đưa đi Trung tâm y tế huyện T điều trị thương tích. Trong lúc K1 trượt tay té bị xe cán trúng chân, thì ông Đặng Hữu H3 là cha của K1 và Đặng Hữu Vũ L là chú của K1 nhìn thấy. L điều khiển xe mô tô Exciter, màu xanh bạc, biển số 62E1-110.74 đuổi theo để yêu cầu ông H1 dừng xe lại giải quyết. Trên đường chạy theo xe ô tô tải, L có ra hiệu cho tài xế xe dừng lại, nhưng tài xế H1 sợ bị đánh nên không dừng lại mà tiếp tục chạy về hướng ngã ba giao nhau giữa Quốc lộ F và Quốc lộ N. L chạy vào chỗ bán cây trồng ở chân dốc cầu K 12 lấy 01 cục gạch ống loại 04 lỗ, cầm bằng tay phải ném vào kính chắn gió phía trước của xe ô tô tải biển số 63C-089.44 do H1 điều khiển làm thủng kính xe chắn gió, cục gạch văng vào trong làm bể kính phía sau của cabin xe. H1 tiếp tục điều khiển xe chạy được một đoạn thì bị Hiện đuổi kịp, H3 và L chặn đầu xe lại, yêu cầu H1 điều khiển xe quay lại quán “Yến Châu” để giải quyết sự việc. Trong lúc nói chuyện với H1, H3 có dùng tay phải đánh 01 cái trúng vào mặt H1 nhưng không gây thương tích. Lúc này, Đặng Thanh V (em H3), Trình Văn L1 (làm thuê ở quán Y) nghe sự việc trên nên cũng chạy xe mô tô đuổi theo, khi đi mỗi người cầm theo 01 dao tự chế. Khi V, L1 đuổi theo kịp gặp được Hiện, L và H1. H1 nhìn thấy V, L1 có cầm dao tự chế nên H1 đồng ý điều khiển xe về quán “Y” để giải quyết sự việc. Khi H1 điều khiển xe quay lại tới sân quán “Y”, lúc H1 xuống xe thì bị L1, V dùng tay đánh nhiều cái vào trúng vào vai, tay, lưng của H1 nhưng không gây thương tích nhưng được ông H3 can ngăn.
Sau đó, ông H3 kêu H1 bồi thường chi phí điều trị thương tích cho K1, vì bị xe ô tô tải do H1 điều khiển cán trúng chân. H1 điện thoại cho bà Trần Thị H (Phó giám đốc Công ty V1), bà H đồng ý cho nhân viên của công ty đến giải quyết. Trong lúc chờ nhân viên công ty đến, ông H1 ngồi ghế đá trước quán nói chuyện với ông H3, thì Lý Công H4 (là bạn của K1) trước đó được Lương Thị Thúy H5 (là vợ của K1) gọi điện thoại cho biết việc K1 bị xe ô tô tải cán trúng chân rồi bỏ chạy nên đến để tìm hiểu sự việc. Khi đến quán, H4 nhặt 01 đoạn cây trước quán Y” đi đến chỗ ông H1 ngồi và hỏi “vì sao gây tai nạn bỏ chạy”, ông H1 trả lời “không cố ý”. H4 cầm cây đánh 01 cái vào vùng ngực ông H1 làm ông bất tỉnh. H4 ném bỏ cây đi về nhà, H1 được đưa đi đến trung tâm y tế huyện T cấp cứu. Sau đó, Phạm Tuấn D1, Lê Văn T1 là nhân viên công ty V1 do bà H phân công đến thỏa thuận với ông H3 (cha ruột của K1) việc tài xế H1 điều khiển xe cán qua chân của K1 số tiền điều trị thương tích là 5.000.000 đồng. Ông T1 và ông D1 chạy xe ô tô tải biển số 63C-089.44 về công ty. Ngày 12/5/2022, công ty V1 đem xe đến cơ sở kính xe hơi “H1” để sửa chữa. Đến ngày 19/5/2022, bà Trần Thị H, Mai Phước H1 có đơn yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T xử lý sự việc. Qua điều tra Đặng Hữu Vũ L đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.
Tại Bản Kết luận Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự số 08/KL-HĐĐG ngày 08/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện T. Kết luận: 01 tấm kính chắn gió phía trước xe ô tô tải loại kính hai lớp kích thước 85cm x 224cm, dày 0,6cm, trên kính có ký hiệu SAINT-GOBAIN SEKURIT// E6 43R-000059//LAMINATED TIS2602-25568, bị bể thủng hư hỏng hoàn toàn trị giá là 7.785.000 đồng; 01 tấm kính cửa bên phải xe ô tô tải loại kính hạt lựu kích thước 75,5cm x 86,1cm, dày 0,5cm bị bể nát hoàn toàn, không thấy được ký hiệu trị giá là 1.620.000 đồng; 01 tấm kính sau cabin xe ô tô tải loại kính hạt lựu kích thước 107cm x 43cm, dày 0,5cm bị bể nát hoàn toàn, không thấy được ký hiệu trị giá là 1.575.000 đồng. Tổng cộng tài sản trị giá là 10.980.000 đồng.
Tại Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 221/TgT.22-PY ngày 15/8/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh L. Kết luận thương tích của Mai Phước H1: Hiện tại vùng đầu, ngực, gối phải không thấy dấu sưng bầm. Kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Mai Phước H1 là 00%.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2023/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An đã quyết định:
1. Tuyên bố bị cáo Đặng Hữu Vũ L phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; các điều 38, 50, 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Đặng Hữu Vũ L 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (Hai) năm.
3. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Long An giám sát, giáo dục. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí, quyền và thời hạn kháng cáo đối với những người tham gia tố tụng.
Ngày 14 tháng 4 năm 2023, người đại diện hợp pháp của bị hại ông Nguyễn Văn Q kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Bị cáo Đặng Hữu Vũ L thừa nhận đã thực hiện hành vi đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã xử và xác định bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự là đúng, không oan. Bị cáo không kháng cáo và xin Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Người đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm do có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm vì có nhiều người cùng tham gia với bị cáo, không đưa đầy đủ người tham gia tố tụng, ngoài ra mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm xét xử đối với bị cáo là quá nhẹ.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau:
Về hình thức và thủ tục kháng cáo của ông Nguyễn Văn Q là người đại diện hợp pháp của bị hại công ty TNHH V1 trong thời gian luật định, những yêu cầu kháng cáo phù hợp với quy định của pháp luật nên Tòa án nhân dân tỉnh Long An thụ lý xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm là có căn cứ.
Về nội dung: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm và những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Đặng Hữu Vũ L có đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự nên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh và điều luật như trên là đúng pháp luật, không oan.
Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường, khắc phục thiệt hại cho bị hại, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo 01 năm tù và cho bị cáo hưởng án treo với thời gian thử thách 02 năm là tương xứng với hành vi, hậu quả mà bị cáo gây ra.
Sau khi xét xử sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của bị hại ông Nguyễn Văn Q kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm: Xét thấy, người đại diện hợp pháp bị hại kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm nhưng không có căn cứ nào xác định cấp sơ thẩm xét xử bỏ lọt người phạm tội và có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2023/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Kháng cáo của ông Nguyễn Văn Q là người đại diện hợp pháp của bị hại công ty TNHH V1 trong thời hạn pháp luật quy định, yêu cầu kháng cáo phù hợp với quy định của pháp luật nên Tòa án nhân tỉnh Long An thụ lý xét xử theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm, còn vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, tuy nhiên những người này đã được triệu tập hợp lệ, do đó, căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 351 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử.
[2] Về nội dung: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm thống nhất với lời khai tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 16 giờ 30 ngày 11/5/2022, Đặng Hữu Vũ L nhìn thấy xe ô tô tải biển số 63C-089.44 do ông Mai Phước H1 điều khiển quay đầu trước sân quán “Y” đã cán trúng chân của Đặng Minh K1, là cháu của bị cáo L nhưng ông H1 không dừng lại mà tiếp tục điều khiển xe chạy đi. Bị cáo L đã điều khiển xe mô tô đuổi theo để yêu cầu ông H1 dừng xe lại giải quyết. Trên đường chạy theo xe ô tô tải, bị cáo có ra hiệu cho tài xế xe dừng lại, nhưng ông H1 sợ bị đánh nên không dừng lại mà tiếp tục chạy về hướng ngã ba giao nhau giữa Quốc lộ F và Quốc lộ N. Bị cáo đã chạy vào chỗ bán cây trồng ở chân dốc cầu K, thuộc ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Long An để lấy 01 cục gạch ống loại 04 lỗ, cầm bằng tay phải ném vào xe ô tô tải biển số 63C-089.44 do H1 điều khiển làm hư hỏng kính chắn gió phía trước xe và kính phía sau của cabin xe ô tô tải biển số 63C-089.44. Tài sản mà bị cáo L gây thiệt hại có giá trị 9.360.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Đặng Hữu Vũ L đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại Điều 178 của Bộ luật Hình sự, do bị cáo gây thiệt hại tài sản có giá trị 9.360.000 đồng nên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan cho bị cáo.
[3] Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường, khắc phục thiệt hại cho bị hại 48.000.000 đồng, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo 01 năm tù và cho hưởng án treo với thời gian thử thách 02 năm là phù hợp.
[4] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn Q là người đại diện hợp pháp của bị hại công ty TNHH V1 yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, nhận thấy:
[4.1] Bà H đại diện theo ủy quyền của bị hại cho rằng có ít nhất 06 người dùng gạch đá, cây cối, hung khí cùng thực hiện hành vi đập bể kính chắn gió xe ô tô tải biển số 63C-089.44, tuy nhiên quá trình điều tra đã xác định chỉ có bị cáo L là người dùng gạch ném bể 01 tấm kính chắn gió phía trước và 01 tấm kính sau cabin xe ô tô tải biển số 63C-089.44, hành vi của bị cáo thực hiện là do bộc phát nhất thời không có sự bàn bạc với ai, những người xung quanh không có hành vi đập phá kính chắn gió của xe ô tô tải do đó không có căn cứ xác định những người này là đồng phạm với bị cáo L. Hơn nữa, tại phiên tòa phúc thẩm thì chính ông Mai Phước H1 cũng xác định ngoài bị cáo L dùng gạch ném bể kính xe thì không còn ai khác tham gia việc đập bể kính xe do ông H1 điều khiển.
[4.2] Ông Q cho rằng cấp sơ thẩm không đưa đầy đủ người tham gia tố tụng và có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm: Nhận thấy, như đã phân tích tại mục [4.1], hành vi phạm tội của bị cáo L là độc lập không có đồng phạm. Riêng hành vi của Lý Công H4 cầm cây đánh 01 cái vào vùng ngực ông H1 đã được giám định tỷ lệ thương tích 00% nên không cấu thành tội phạm. Hơn nữa, các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã lấy lời khai những tham gia và có mặt ở hiện trường và đưa vào tham gia tố tụng với tư cách người có liên quan trong vụ án, Tòa án cấp sơ cũng đã triệu tập những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng là phù hợp quy định pháp luật nên không có căn cứ hủy án sơ thẩm như đơn kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại.
[4.3] Việc bà H cho rằng mức hình phạt đối với bị cáo là nhẹ, Tòa án cấp sơ thẩm cho bị cáo hưởng án treo không đúng quy định pháp luật, nhận thấy: Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của bị hại kháng cáo chỉ trình bày lại các tình tiết mà cấp sơ thẩm đã xem xét, và không cung cấp tình tiết nào khác ngoài các tình tiết mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng. Hơn nữa, bị cáo không có tình tiết tăng nặng và bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, ngoài lần phạm tội này bị cáo chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, có nơi cư trú cụ thể rõ ràng, bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo theo Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 05 năm 2018 (được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022) của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng mức hình phạt như trên và cho các bị cáo hưởng án treo là phù hợp với quy định của pháp luật nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2023/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An về hình phạt đối với các bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[5] Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Đặng Hữu Vũ L và bị hại công ty TNHH V1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT Đ NH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Công ty TNHH V1; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2023/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An.
2. Tuyên bố: Bị cáo Đặng Hữu Vũ L phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Đặng Hữu Vũ L 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 31 tháng 3 năm 2023.
Giao bị cáo Đặng Hữu Vũ L cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Long An để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội phạm mới và tổng hợp với hình phạt tù của bản án trước theo quy định tại Điều 55 và Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Đặng Hữu Vũ L và bị hại công ty TNHH V1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Long An; - TAND huyện; - VKSND huyện; - Chi cục THADS huyện; - CQĐT Công an huyện; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Sở Tư pháp tỉnh Long An; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quốc Khánh |