- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tran Bao V "Co y gay thuong tich" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ su…"
- Tòa quyết gì? Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm c, e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 86/2023/HS-PT Ngày: 07 - 6 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hoài
- Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Hữu Hồng
Ông Đỗ Mạnh Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hương Trang – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Dịu - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 61/2023/TLPT-HS ngày 29 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo Trần Bảo V và đồng phạm; do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2023/HS-ST ngày 16/02/2023 của Tòa án nhân dân thành phố BL, tỉnh Lâm Đồng.
Các bị cáo có kháng cáo:
1. Trần Bảo V; sinh năm 1997; tại: Đồng Nai; nơi ĐKNKTT và cư trú: Số 81/29/4A đường Đ, Tổ 1, phường LS, thành phố BL, tỉnh Lâm Đồng; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Thợ sắt; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Xuân H và bà Lê Thị V (đã chết); vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 110/2013/HSST ngày 29/10/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố BL xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng về tội trộm cắp tài sản, đã được xóa án tích. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
2. Trần Quốc A; sinh năm 1996; tại: Lâm Đồng; nơi ĐKNKTT và cư trú: Số 90/12 đường M, Tổ 18, phường LP, thành phố BL, tỉnh Lâm Đồng; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: Làm nông; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Nh và bà Phạm Thị Nh; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
3. Dương Anh Q; sinh năm 1998; tại: Lâm Đồng; nơi ĐKNKTT và cư trú: Số 152/23/1 đường Đoàn Thị Đ, thôn T 2, xã LT, thành phố BL, tỉnh Lâm Đồng; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Công nhân; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn H và bà: Trần Thị Ngọc D; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Quốc A và Dương Anh Q: Luật sư Phạm Thị Thanh Nh – Văn phòng luật sư D; địa chỉ: Số 06 N, Tổ 24, thị trấn L, huyện ĐT, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tối ngày 14/5/2022, Trần Bảo V gọi điện rủ Nguyễn Văn H, Trần Quốc A đến quán vỉa hè trên đường N, thuộc địa bàn Phường 2, thành phố BL để nhậu. Tại đây, ngoài V, H và Q A còn có Dương Anh Q và Nguyễn Trần Kh, sinh năm 1996; trú tại thôn Đ, xã LN, thành phố BL, tỉnh Lâm Đồng cùng ngồi nhậu. Ngồi được một lúc thì V kể cho cả nhóm nghe sự việc xảy ra trước đó khoảng 02 tuần, V bị Trần Hoàng A1 đánh nên V nhờ cả nhóm đi đánh Hoàng A1 để trả thù thì có H, Q A và Q đồng ý, riêng Kh không đồng ý. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, Trần Bảo V điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Văn H, Dương Anh Q chở Trần Quốc A cùng đi đến quán “Net Titan II”, tại số 425 đường T, phường LS, thành phố BL để tìm Hoàng A1, còn Kh một mình đi về nhà. Trên đường đi, H bảo V ghé vào một quán ăn trên Đường 28/3, thuộc địa bàn phường B’Lao, thành phố BL, để H vào quán lấy 01 thanh kiếm dài 60cm dấu vào người, rồi V tiếp tục chở Hiện đến quán “Net Titan II”. Trên đường đi, do mũi kiếm giấu trong người H lòi ra nên Trần Quốc A và Dương Anh Q đã nhìn thấy.
Khi đến trước cửa quán “Net TiTan II”, V nói cả nhóm đứng đợi để V vào trong gọi Hoàng A1 ra ngoài thì cả nhóm đồng ý. Sau đó, V đi vào trong quán gọi Hoàng A1 ra ngoài để nói chuyện; Hoàng A1 vừa đứng dậy đi được khoảng 02m thì bị H dùng kiếm chém 01 nhát vào người, Hoàng A1 giơ tay phải lên đỡ thì nhát chém trúng vào cổ tay phải. V thấy H chém Hoàng A1 thì xông vào can, nhưng Hiện vẫn tiếp tục xông vào chém Hoàng A1 thêm 01 nhát nữa trúng vào ngón tay cái bàn tay trái. Lúc này Hoàng A1 lùi lại phía sau thì bị trượt chân té xuống đất, thấy vậy Q A lao vào dùng tay đấm nhiều cái vào mặt Hoàng A1. Riêng Dương Anh Q không tham gia đánh Hoàng A1 mà đứng bên ngoài chờ, khi thấy H và Q A chạy ra thì Q chở hai đối tượng đi về. Còn Trần Bảo V thì ở lại hiện trường một lúc rồi đi về sau. Sau đó, Hoàng A1 được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện II Lâm Đồng. Theo Kết luận giám định về thương tích ngày 25/6/2022, của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Lâm Đồng, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên cho Trần Hoàng A1 là 18%; (tổn thương do vật sắc gây nên).
Về vật chứng: Hiện đang tạm giữ 01 thanh kiếm chiều dài 60cm, phần lưỡi bằng kim loại có mũi nhọn dài 43cm, rộng 3,5cm, phần cán bằng gỗ dài 17cm, bao kiếm bằng gỗ sơn màu đen, dài 47cm.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra sự việc các bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 60.000.000 đồng. Anh Trần Hoàng A1 không yêu cầu gì và viết đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Cáo trạng số 21/CT-VKSBL, ngày 09/01/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố BL đã truy tố các bị cáo: Trần Bảo V, Nguyễn Văn H, Dương Anh Q và Trần Quốc A về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại bản án số 18/2023/HS-ST ngày 16/02/2023 của Tòa án nhân dân thành phố BL đã xử;
1. Tuyên bố các bị cáo: Trần Bảo V, Nguyễn Văn H, Trần Quốc A và Dương Anh Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/7/2022.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt các bị cáo: Trần Bảo V, Trần Quốc A, mỗi bị cáo 30 (ba mươi) tháng tù; xử phạt bị cáo Dương Anh Q 24 (hai bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án.
Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo.
Ngày 24/02/2023 bị cáo Trần Quốc A, Dương Anh Q kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo
Ngày 27/02/2023 bị cáo Trần Bảo V kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã xét xử các bị cáo và không thắc mắc khiếu nại gì bản án sơ thẩm.
Luật sư bào chữa cho các bị cáo Quốc A và Anh Q trình bày: Thống nhất về tội danh và khung hình phạt mà Tòa án sơ thẩm đã xét xử các bị cáo nhưng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các bị cáo phạm tội với tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều không bàn bạc về việc Hiện sử dụng hung khí gây thương tích cho bị hại. Bị cáo Quốc A chỉ dùng tay đánh bị hại; bị cáo Anh Q chỉ chở các bị cáo đi chứ không trực tiếp đánh bị hại. Bị cáo Quốc A có tình tiết giảm nhẹ mới là gia đình có công cách mạng quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Quốc A và Anh Q có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, đề nghị áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của các bị cáo nộp trong hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung: Do có mâu thuẫn từ trước với anh Trần Hoàng A1 nên tối ngày 14/5/2022 Trần Bảo V đã rủ các bị cáo Nguyễn Văn H, Trần Quốc A và Dương Anh Q đi đánh Trần Hoàng A1 để trả thù thì các bị cáo đồng ý. Sau đó, H chuẩn bị 01 thanh kiếm dài 60cm rồi cùng cả nhóm đi đến quán Net “Titan II”, tại số 425 đường T, phường LS, thành phố BL để tìm gặp anh Hoàng A1. Tại đây, V đi vào trong quán gọi Hoàng A1 ra ngoài thì Hiện dùng kiếm chém 02 nhát trúng vào tay Hoàng A1, khi Hoàng A1 té thì bị Q A dùng tay đấm nhiều cái vào mặt. Hậu quả gây thương tích cho Hoàng A1 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 18%. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường thiệt hại và được bị hại viết đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Trong vụ án này, bị cáo V là người chủ mưu, khởi xướng, rủ rê các bị cáo khác đi đánh bị hại nhưng cấp sơ thẩm lại xét xử bị cáo mức án ngang với bị cáo Trần Quốc A là chưa phù hợp. Bị cáo V kháng cáo nhưng không có tình tiết giảm nhẹ mới, bị cáo là người có nhân thân xấu nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo V.
Bị cáo Trần Quốc A tham gia với vai trò giúp sức, khi nhìn thấy Hoàng A1 bị chém và té xuống đất, Quốc A đã dùng tay đấm nhiều cái vào mặt Hoàng A1. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo xuất trình tình tiết giảm nhẹ mới là gia đình có công với cách mạng quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo và giảm một phần hình phạt cho bị cáo Quốc A là phù hợp.
Đối với bị cáo Dương Anh Q chỉ tham gia chở các bị cáo đi đánh nhau, không tham gia đánh bị hại, vai trò đồng phạm thứ yếu. Bị cáo phạm tội nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần bắt chấp hành hình phạt tù. Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
Về án phí: Bị cáo Trần Bảo V phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm c, e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Bảo V; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Quốc A và Dương Anh Q, sửa bản án sơ thẩm. Xử:
1. Tuyên bố các bị cáo: Trần Bảo V, Trần Quốc A và Dương Anh Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo Trần Bảo V 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo Trần Quốc A 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo Dương Anh Q 24 (hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (07-6-2023).
Giao bị cáo Dương Anh Q cho Ủy ban nhân dân xã LT, thành phố BL, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình của người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án. Trường hợp người bị kết án có sự thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành án thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự. Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm e khoản 2 Điều 23; Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Bảo V phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01); - Vụ GĐKT I – TANDTC (01); - Phòng KTNV&THA (04); - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng (01); - Phòng PV 06 CA tỉnh Lâm Đồng (01); - TAND Tp. BL (05); - VKSND Tp. BL(01); - Cơ quan CSĐT CA Tp. BL(01); - Cơ quan THAHS CA Tp. BL(01); - Bị cáo (03); - Hồ sơ THAHS (04); - Lưu hồ sơ; Án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Duy Hoài |