- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lâm Thị Kiều O - Tô Văn V"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Kiều O được ly hôn với ông Tô Ngọc V (Giấy chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 01/9/2005).
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG ——————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 86/2023/HNGĐ-ST Ngày 05-9-2023 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Quyết.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Sơn Tây;
2. Bà Võ Thị Hồng Tươi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Bồ Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 74/2023/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2023 về việc Tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Kiều O, sinh năm 1981; địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Tô Ngọc V, sinh năm 1977; địa chỉ: Nhà T, tổ B, khu phố M, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 16 tháng 02 năm 2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Thị Kiều O trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Kiều O và ông Tô Ngọc V tự nguyện tìm hiểu nhau một thời gian thì tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai vào năm 2005, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 01/9/2005. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sống tại tổ A, ấp T, xã B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, chung sống được một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng tính tình không hợp, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, ông V thường xuyên uống rượu và đánh bà O, mâu thuẫn kéo dài dẫn đến việc bà O không còn tình cảm với ông V. Hai vợ chồng đã sống ly thân khoảng 01 (một) năm nay. Ông V đã chuyển chỗ ở về nhà trọ T, tổ B, khu phố M, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương để sinh sống. Trong quá trình vợ chồng sống ly thân không có sự quan tâm, chăm sóc qua lại. Bà O xác định không còn tình cảm và không muốn sống chung với ông V nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có ba con chung, cháu Tô Thị Minh T, sinh ngày 07/10/2006, cháu Tô Thị Minh T1, sinh ngày 28/9/2009 và cháu Tô Ngọc Minh L, sinh ngày 25/7/2012. Hiện con chung đang ở với bà O. Sau khi ly hôn, bà Lê Thị Kiều O yêu cầu được nuôi dưỡng ba con chung và không yêu cầu ông Tô Ngọc V cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về phía bị đơn ông Tô Ngọc V:
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã giao thông báo thụ lý vụ án và yêu cầu ông Tô Ngọc V có ý kiến trả lời bằng văn bản đối với các yêu cầu của bà Lê Thị Kiều O nhưng ông V không có ý kiến. Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 24/7/2023 nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do; đồng thời cũng không có ý kiến và không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ gì thể hiện việc đồng ý hay không đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa:
Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa sơ thẩm Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật.
Về hôn nhân, bà Lê Thị Kiều O và ông Tô Ngọc V có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng sống không hạnh phúc do mâu thuẫn kéo dài, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn và yêu cầu giải quyết về con chung là có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về tài sản chung và nợ chung các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về sự vắng mặt của bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập bị đơn làm việc nhưng bị đơn vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa vào các ngày 17/8/2023 và ngày 05/9/2023 nhưng vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Kiều O và ông Tô Ngọc V là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai vào năm 2005, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 01/9/2005 nên quan hệ hôn nhân của bà Lê Thị Kiều O và ông Tô Ngọc V là hợp pháp.
Bà Lê Thị Kiều O xác định cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng tính tình không hợp, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, thường xuyên xảy ra tranh cãi, ông V đánh đập bà O nên dẫn đến việc bà O không còn tình cảm với ông V, hai vợ chồng đã sống ly thân khoảng 01 (một) năm nay. Bản thân ông V sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã triệu tập đến tham gia phiên hòa giải để hòa giải mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng bị đơn không có mặt và cũng không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn, điều này chứng tỏ bị đơn không muốn hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Qua đó thấy rằng mâu thuẫn vợ chồng của bà O đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà Lê Thị Kiều O yêu cầu ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định của Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
Quá trình chung sống, vợ chồng có ba con chung, cháu Tô Thị Minh T, sinh ngày 07/10/2006, cháu Tô Thị Minh T1, sinh ngày 28/9/2009 và cháu Tô Ngọc Minh L, sinh ngày 25/7/2012. Hiện con chung đang do bà O nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn bà O yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Tô Ngọc V cấp dưỡng. Xét con chung hiện đang do bà O nuôi dưỡng, tại các bản tự khai ngày 08/3/2023 các cháu Tô Thị Minh T, Tô Thị Minh T1 và Tô Ngọc Minh L xác định có nguyện vọng được sống chung với bà O. Qua đó thấy rằng việc giao con chung cho bà O nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của nguyên đơn và phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: Bà Lê Thị Kiều O không yêu cầu ông Tô Ngọc V cấp dưỡng nuôi con, xét đây là sự tự nguyện của đương sự nên Tòa án ghi nhận.
Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Xét ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về quan điểm giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.
Án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn: Bà Lê Thị Kiều O phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Kiều O được ly hôn với ông Tô Ngọc V (Giấy chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 01/9/2005).
2. Về con chung: Ông Tô Ngọc V giao các con chung, cháu Tô Thị Minh T, sinh ngày 07/10/2006, cháu Tô Thị Minh T1, sinh ngày 28/9/2009 và cháu Tô Ngọc Minh L, sinh ngày 25/7/2012 cho bà Lê Thị Kiều O trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lê Thị Kiều O không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Sau ly hôn, bà Lê Thị Kiều O và ông Tô Ngọc V đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở ông, bà thực hiện quyền này. Vì quyền lợi hợp pháp của con, khi một hoặc cả hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị Kiều O phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí về ly hôn được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0007420 ngày 01/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
5. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự (02); - TAND tỉnh Bình Dương (01); - VKSND thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương (01); - CCTHADS thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương (01); - Lưu: VT, HSVA (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Quyết |