- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị L được ly hôn ông Trương Minh Đ.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 86/2023/HNGĐ-ST Ngày 15 tháng 6 năm 2023 V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Duy Thụy
2. Bà Huỳnh Thị Thúy Hoa
Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Võ Ngọc Mến - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 142/2023/TLST-HNGĐ, ngày 29 tháng 3 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 162/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 24 tháng 4 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 179/2023/QĐST-HN, ngày 19 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị L, sinh năm 1978.
Nơi cư trú: ấp CT , xã TT, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang. Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Trương Minh Đ, sinh năm 1976.
Nơi cư trú: Ấp ML2, xã MHH, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn cùng các lời khai trong quá trình giải quyết nguyên đơn bà Trần Thị L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Trương Minh Đ tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Thành, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang vào năm 2010. Vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân bất đồng quan điểm sống, ông Đ không chí thú làm ăn lo cho gia đình, bà khuyên nhủ, tạo cơ hội nhưng ông Đ vẫn không sửa đổi, nên ông bà sống ly thân 10 năm nay. Do mâu thuẫn trầm trọng, hôn nhân không hạnh phúc nên bà Trần Thị L yêu cầu ly hôn ông Trương Minh Đ.
Về con chung: Ông bà có 01 (một) con chung tên Trương Thị Yến L1, sinh ngày 03/02/2007 do bà L chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà L yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung sau ly hôn, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con, vì bà có việc làm, thu nhập mỗi tháng khoảng 14.000.000 đồng, đủ khả năng lo cho con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án ông Trương Minh Đ mặc dù được niêm yết, tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L. Tại phiên tòa được mở lần thứ hai ông Đ vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, của đương sự và đề xuất việc giải quyết vụ án như sau:
Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thụ lý giải quyết đúng quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Các văn bản tố tụng được tống đạt, niêm yết đúng quy định tại các Điều 171, 173, 175, 177 và 179 BLTTDS 2015. Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của BLTTDS về xét xử vụ án. Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L được ly hôn ông Trương Minh Đ.
- Về con chung: Giao con chung Trương Thị Yến L1, sinh ngày 03/02/2007 cho bà L chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà L không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng, nên không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu, nên không đề xuất giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
. Bà L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Đ. Ông Đ cư ngụ tại xã MHH, thành phố Long Xuyên nên Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Phiên tòa hôm nay mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng ông Đ vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông Trương Minh Đ.
. Về nội dung:
. Về hôn nhân: Ông Đ và bà L tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Thành, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang nên được pháp luật công nhận là vợ chồng theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Nguyên nhân yêu cầu ly hôn theo bà L trình bày sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, ông Đ không chí thú làm ăn lo cho gia đình, bà nhiều lần khuyên nhủ nhưng ông Đ vẫn không sửa đổi nên ông bà sống ly thân từ 10 năm nay. Do mâu thuẫn trầm trọng, hôn nhân không hạnh phúc nên bà L yêu cầu ly hôn ông Đ.
Quá trình giải quyết vụ án ông Đ vắng mặt. Theo Phiếu yêu cầu xác minh của Tòa án tại Công an xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên ngày 10/4/2023 thể hiện: Đương sự Trương Minh Đ, sinh năm 1976 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Ấp ML2, xã MHH, thành phố Long Xuyên. Do ông Đ vắng mặt, Tòa án thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho ông Đ biết nhưng ông Đ vẫn không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ do bà L cung cấp, cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ hoặc có yêu cầu nhằm phản đối yêu cầu khởi kiện của bà L.
Xét thấy, trong gia đình vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, tôn trọng và cùng nhau chia sẻ vui buồn trong cuộc sống, đây là cơ sở vững chắc để bồi đắp, duy trì tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên, thực tế cả bà L và ông Đ không quan tâm, không có biện pháp hòa giải, hàn gắn tình cảm khi mâu thuẫn phát sinh, thời gian sống ly thân ông bà cũng không có biện pháp, giải pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng. Phiên tòa được mở lần thứ hai, ông Đ tiếp tục vắng mặt không có lý do là không có thiện chí hòa giải để hàn gắn hạnh phúc gia đình. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân của ông bà đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu duy trì hôn nhân cũng không đem lại hạnh phúc thật sự cho cả hai. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà L được ly hôn ông Đ.
. Về con chung: Ông bà có 01 (một) con chung tên Trương Thị Yến L1, sinh ngày 03/02/2007 do bà L chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà L yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung sau ly hôn, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con. Cháu L1 có nguyện vọng sống cùng bà L.
Ông Đ không tranh chấp quyền nuôi con. Xét điều kiện của bà L trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và nguyện vọng của cháu L1, nhằm đảm bảo ổn định cuộc sống cho cháu L1, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà L được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung sau ly hôn.
Về cấp dưỡng nuôi con, cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, đây là quyền lợi của con chưa thành niên. Tuy nhiên, bà L trực tiếp nuôi con có công việc, thu nhập đủ khả năng lo cho con không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Bà L phải tạo điều kiện cho ông Đ được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Việc nuôi con không cố định.
Bà L trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông Đ trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
. Về tài sản chung và nợ chung: Bà L không yêu cầu giải quyết. Ông Đ không có ý kiến về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử chưa giải quyết.
. Về án phí: Bà L phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân sơ thẩm, được từ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp.
. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 2 Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 6; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị L được ly hôn ông Trương Minh Đ.
2. Về con chung: Ông Trương Minh Đ và bà Trần Thị L có 01 (một) con chung tên Trương Thị Yến L1, sinh ngày 03/02/2007. Bà Trần Thị L được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Trương Thị Yến L1 sau khi ly hôn.
Ông Trương Minh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung, do bà Trần Thị L không yêu cầu.
Bà L phải tạo điều kiện cho ông Đ được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Việc nuôi con không cố định.
Bà L trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông Đ trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Chưa xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Bà Trần Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001506, ngày 29 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên. Bà L đã nộp đủ tiền án phí.
5. Quyền kháng cáo: Bà L có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Ông Đ không có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi gởi: - Tòa án ND tỉnh An Giang; - VKS ND TPLX; - Thi hành án DS TPLX; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu văn phòng./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Hoa |