- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị N yêu cầu ly hôn anh S"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 86/2023/HNGĐ-ST Ngày 23 - 5 - 2023 “V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S, TỈNH AN GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Bé Thi.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Liêu Khăng.
2. Bà Diệp Thị Thu Nguyệt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Tiểu Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện S.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lam Em – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện S xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 558/2022/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 4 năm 2023; giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị N, sinh năm 1996;
Địa chỉ: Ấp T, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau.
Bị đơn: Anh S, sinh năm 1993;
Địa chỉ: Ấp H, xã M, huyện S, tỉnh An Giang.
(Chị N có mặt; anh S vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 4-4-2022, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị N trình bày:
Chị và anh S tự tìm hiểu và chung sống với nhau vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau vào năm 2015. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến tháng 02/2019 đã phát sinh mâu thuẫn vợ chồng. Nguyên nhân là do anh S chỉ lo ăn chơi mà không lo làm ăn, vợ chồng bất đồng quan điểm và thường xuyên cự cãi nhau, mâu thuẫn giữa chị và anh S ngày càng trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Từ tháng 01/2020 chị và anh S đã sống ly thân cho đến nay. Nay chị yêu cầu ly hôn với anh S.
Về con chung: Chị và anh S có 02 con chung tên T, sinh ngày 08-5-2014 và T1, sinh ngày 24-11-2018. Hiện hai con đang sống với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu anh S cấp dưỡng cho hai con.
Về tài sản chung: Không có.
Nợ chung: Không có.
Đối với bị đơn anh S: Tòa án nhân dân huyện S đã tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đồng thời triệu tập anh S tham gia phiên họp hai lần hợp lệ, nhưng anh vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không cung cấp lời khai cho Tòa án.
Tại phiên tòa, chị N có mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; anh S vắng mặt không có lý do.
* Ý kiến của Kiểm sát viên tham dự phiên tòa:
- Về tố tụng, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Thẩm phán, Thư ký chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N, cho chị N ly hôn với anh S, giao con chung tên T, sinh ngày 08-5-2014 và T1, sinh ngày 24-11-2018 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng; buộc chị N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, đề nghị của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về áp dụng pháp luật tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân và gia đình; bị đơn là anh S có địa chỉ tại huyện S, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc vắng mặt của đương sự: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung:
Xét quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị N và anh S là hôn nhân hợp pháp, anh chị chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 11-11-2015. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến tháng 02/2019 đã phát sinh mâu thuẫn vợ chồng. Nguyên nhân là do anh S không lo làm ăn, vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, hôn nhân không còn hạnh phúc. Từ tháng 01/2020 anh chị đã sống ly thân cho đến nay. Xét thấy, hôn nhân giữa chị N, anh S đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về con chung: Chị N yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung tên T, sinh ngày 08-5-2014 và T1, sinh ngày 24-11-2018. Xét thấy, từ tháng 01/2020 đến nay cháu T, cháu T1 sống chung với chị N và được chị chăm sóc, nuôi dưỡng chu đáo; để ổn định cuộc sống cho cho cháu và cũng theo nguyện vọng của cháu T được sống với chị N nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu T, cháu T1 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
Cấp dưỡng cho con: Chị N không yêu cầu anh S cấp dưỡng cho hai con chung, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Chị N trình bày, chị và anh S không có nợ chung.
Về án phí: Chị N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2014/UBTVQH 14 của Quốc hội quy định án phí, lệ phí Tòa án.
Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh An Giang là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều: 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị N được ly hôn với anh S.
2. Về nuôi con chung: Chị N trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên T, sinh ngày 08-5-2014 và T1, sinh ngày 24-11-2018. Hiện chị N đang nuôi hai con chung.
Anh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0011415 ngày 13-12-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện S, tỉnh An Giang, xem như chị N đã nộp xong án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Chị N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh An Giang; - VKSND huyện S; - Chi cục THADS huyện S; - UBND thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau; - Lưu HS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Dương Thị Bé Thi |