vanban.org

Bản án 86/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Thanh T. 1. Về hôn nhân: Bà Trần Thị Thanh T được ly hôn với ông Nguyễn Hồng Q. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn T - Q"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định bà T; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 86/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 09 - 8 - 2023
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nam

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Gia và ông Trịnh Ngọc Thành.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Văn Năng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Sơn Tùng – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 276/2023/TLST- HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2023, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thanh T, sinh năm 1987;

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hồng Q, sinh năm 1980;

Cùng nơi cư trú: Ấp T L 2, xã P T, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

(Các đương sự vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề 24/5/2023 và lời khai trong thời gian chuẩn bị xét xử vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị Thanh T trình bày:

Bà và ông Nguyễn Hồng Q tự nguyện kết hôn với nhau và được Ủy ban nhân dân xã P T, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 15 tháng 01 năm 2008. Sau khi kết hôn, vợ chồng cùng chung nhưng thường xảy ra mâu thuẫn, cãi vã; ông Q thường ghen tuông vô cớ và chửi bới xúc phạm bà, cuộc sống hôn nhân ngột ngạt, đời sống với chồng không hạnh phúc. Vào năm 2014, bà đã khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng sau đó bà đã rút đơn khởi kiện và vợ chồng tiếp tục chung sống với nhau nhưng lại xảy ra mâu thuẫn, lời qua tiếng lại, xúc phạm lẫn nhau. Nay vợ chồng không thể hàn gắn để chung sống với nhau, tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Hồng Q.

Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Bà và ông Nguyễn Hồng Q có 02 (hai) con chung là: Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 12/9/2008 và Nguyễn Minh Q, sinh ngày 13/12/2010. Nay ly hôn, bà đồng ý giao cả hai con cho ông Q trực tiếp nuôi dưỡng và bà cấp dưỡng nuôi mỗi con, mỗi tháng 2.500.000đ (hai triệu năm trăm đồng).

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Vợ chồng bà không nợ ai nên bà không yêu cầu Tòa giải quyết.

- Tại Bản tự khai ngày 16/6/2023, lời khai trong quá trình chuẩn bị xét xử, bị đơn ông Nguyễn Hồng Q trình bày:

Ông và bà Trần Thị Thanh T tự nguyện kết hôn với nhau và được Ủy ban nhân dân xã P T, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết năm 2008. Trong thời gian sống chung, vợ chồng không có xảy mâu thuẫn gì, chỉ do bản thân ông bị bệnh, sức khỏe giảm sút nên bà T mới yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Bản thân ông vẫn còn tình cảm với bà T nên ông không đồng ý ly hôn với bà Trần Thị Thanh T.

Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Ông và bà T có 02 (hai) con chung là Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 12/9/2008 và Nguyễn Minh Q, sinh ngày 13/12/2010. Trường hợp, Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn thì ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung. Việc cấp dưỡng nuôi con do bà T tự nguyện thì ông cũng đồng ý và không có ý kiến.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Vợ chồng không có nợ chung bất kỳ ai nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Để có cơ sở giải quyết vụ án, Tòa án lập Biên bản xác minh về tình trạng hôn nhân của các đương sự tại địa phương và thông báo kết quả thu thập tài liệu, chứng cứ gửi đến các đương sự. Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:

- Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng trình tự tố tụng theo quy định đối với một phiên tòa sơ thẩm.

- Về quan điểm giải quyết vụ án:

Căn cứ: Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 85, 89, 91, 92, 93 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 28, 35, 39, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn: Cho bà Trần Thị Thanh T được ly hôn với ông Nguyễn Hồng Q; về con chung: Giao các con chung cho ông Q trực tiếp nuôi dưỡng và bà T phải cấp dưỡng nuôi mỗi con, mỗi tháng 2.500.000 đồng; về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết; về án phí: Nguyên đơn phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về ly hôn và cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về áp dụng pháp luật tố tụng:

Xác định thẩm quyền giải quyết: Ông Nguyễn Hồng Q cư trú tại ấp T L 2, xã P T, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Vì vậy, căn cứ theo điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

[1.2] Xác định quan hệ pháp luật: Bà T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Q và giải quyết việc nuôi dưỡng con chung chưa thành niên. Vì vậy, quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Xác định tư cách đương sự: Bà T khởi kiện đối với ông Q. Căn cứ theo khoản 2, khoản 3 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định bà T là nguyên đơn, ông Q là bị đơn trong vụ án.

[1.4] Tại phiên tòa, Các đương sự vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227, Điều 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

Về áp dụng pháp luật nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhận thấy:

Về hôn nhân: Các đương sự tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã P T, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 03, ngày 15 tháng 01 năm 2008. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ, khi bà T yêu cầu ly hôn thì Tòa án căn cứ Luật hôn nhân gia đình để giải quyết.

Trên cơ sở lời khai của đương sự và tài liệu, chứng cứ thu thập trong quá trình tiến hành tố tụng thể hiện: Bà T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng ông Q không đồng ý ly hôn. Bản thân ông Q cho rằng vợ chồng không xảy ra mâu thuẫn gì nhưng vào năm 2014, bà T đã khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng sau đó đã rút đơn khởi kiện và Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án. Mặt khác, qua xác minh tại địa phương cho thấy, các đương sự thường xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, lời qua tiếng lại, xúc phạm lẫn nhau, mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng nên đã sống ly thân từ tháng 05/2023 cho đến nay.

Từ những đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Các đương sự đã vi phạm nghiêm trọng về nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ giữa vợ và chồng; vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình, làm hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không được liên tục, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại Điều 91 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con và cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự có 02 (hai) con chung là Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 12/9/2008 và Nguyễn Minh Q, sinh ngày 13/12/2010. Khi ly hôn, bà T đồng ý giao con cho ông Q trực tiếp nuôi dưỡng và bà cấp dưỡng nuôi mỗi con, mỗi tháng 2.500.000 đồng và ông Q đồng ý và không phản đối với yêu cầu của bà T. Vì vậy, giao cháu Đ và cháu Q cho ông Q trực tiếp nuôi dưỡng là có cơ sở, đúng pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà T, bà T cấp dưỡng nuôi mỗi con, mỗi tháng 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng). Thời điểm cấp dưỡng tính từ khi bản án có hiệu lực cho đến khi con trưởng thành và có khả năng lao động.

Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

Về nợ chung: Các đương sự khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn và cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144, 147; khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 235, 238, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Điều 39 của Bộ luật dân sự năm 2015;

- Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 107, 108, 110, 116, 117 và Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Điều 85, 89, 91, 92, 93 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;

- Điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Thanh T.

1.1. Về hôn nhân: Bà Trần Thị Thanh T được ly hôn với ông Nguyễn Hồng Q.

1.2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự có 02 (hai) con chung là Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 12/9/2008 và Nguyễn Minh Q, sinh ngày 13/12/2010. Giao giao cháu Đ và cháu Q cho ông Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Bà T phải cấp dưỡng nuôi mỗi con, mỗi tháng 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng). Thời điểm cấp dưỡng tính từ khi bản án có hiệu lực cho đến khi con trưởng thành và có khả năng lao động.

Các đương sự có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được gây cản trở. Vì lợi ích của con chung các đương sự có quyền xin thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

1.3. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

1.4. Về nợ chung: Các đương sự khai không có nên Tòa án không giải quyết.

2. Về án phí: Bà Trần Thị Thanh T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình về ly hôn và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình về cấp dưỡng, tổng cộng là 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) bà T đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu số 0001142 ngày 31/5/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Bà T còn phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thờ i hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của luật.

Cỡ chữ