- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 86/2023/HNGĐ - ST. Ngày: 27 - 6 - 2023. V/v:“Tranh chấp ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Nhật Lệ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Trường.
Ông Lưu Đức Chung.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký tòa án nhân dân huyện Long Thành.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: ông Lê Trọng Minh – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 102/2023/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/6/2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng D, sinh năm 1998.
Địa chỉ: Xã PB, huyện LT, tỉnh ĐN.
Chỗ ở hiện nay: Tổ 3, SX, thị xã PM, tỉnh BRVT.
Bị đơn: Anh Hoàng Mạnh G, sinh năm 1994.
Địa chỉ: Xã PB, huyện LT, tỉnh ĐN.
Hiện đang chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở tư vấn và điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Địa chỉ: ấp 6, xã Tóc Tiên, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
(Các đương sự vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, các biên bản làm việc và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh G tự nguyện chung sống năm 2018, đến năm 2020 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã Phước Bình, huyện Long Thành. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến khoảng giữa năm 2022 thì vợ chồng thường xuyên tranh cãi, anh G thường xuyên ăn chơi, sử dụng ma túy, đập phá đồ đạc gia đình, vợ chồng không quan tâm chăm sóc lẫn nhau và sống ly thân từ khoảng giữa năm 2022 đến nay. Nay nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm đã hết nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh G.
Về con chung: Có 01 con chung tên là Hoàng Gia P, sinh ngày 31/7/2020. Hiện con chung đang do chị nuôi dưỡng, sau ly hôn chị đề nghị giao con chung cho chị tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận.
Nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
* Tại bản tự khai ngày 11/5/2023 bị đơn anh Hoàng Mạnh G trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị D chung sống tự nguyện khoảng năm 2016, đến năm 2020 mới làm đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu, nhưng cách nay khoảng 02 năm do anh không chịu làm ăn nên vợ chồng thường xuyên tranh cãi, cuộc sống chung không còn hạnh phúc. Nay chị Giàu đề nghị giải quyết ly hôn anh đồng ý.
Về con chung: Có 01 con chung tên là Hoàng Gia P, sinh ngày 31/7/2020, hiện đang do chị D trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Sau ly hôn anh đồng ý giao con chung cho chị D trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận.
Nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ được thực hiện đầy đủ, khách quan, thời hạn tố tụng được bảo đảm, các quyết định được tống đạt hợp lệ.
Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu tranh chấp ly hôn của chị D. Xử cho chị Nguyễn Thị Hồng D được ly hôn với anh Hoàng Mạnh G.
Về con chung: Đề nghị giao cháu Hoàng Gia P, sinh năm 2020 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời anh G không phải cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp phát sinh giữa chị Nguyễn Thị Hồng D và anh Hoàng Mạnh G là tranh chấp ly hôn, đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn anh Hoàng Mạnh G cư trú tại xã Phước Bình, huyện Long Thành nên tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Thành theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị D và bị đơn anh G có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
. Về quan hệ hôn nhân:
Chị D và anh G chung sống tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Phước Bình, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 79/2020, ngày 18/9/2020 nên là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Chị D và anh G đều thừa nhận, trong thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, tranh cãi, vợ chồng không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, đã sống ly thân được một thời gian. Từ đó nhận thấy, hôn nhân giữa chị D và anh G đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, chị D yêu cầu giải quyết ly hôn, anh G đồng ý. Tuy nhiên, anh G hiện đang áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt nên không thể ghi nhận sự tự nguyện ly hôn giữa chị D và anh G. Do đó, áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị D. Xử cho chị D được ly hôn với anh G.
. Về con chung: Chị D và anh G có 01 con chung tên là Hoàng Gia P, sinh ngày 31/7/2020. Sau ly hôn chị D yêu cầu giao con chung cho chị D trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, anh G cũng đồng ý giao con chung cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu về việc nuôi con chung của chị D, giao cháu Phúc cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng; tạm thời anh G không phải cấp dưỡng nuôi con do chị D không yêu cầu.
. Về tài sản chung: Các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
. Về nợ chung: Các đương sự trình bày không có nên không xem xét.
. Về án phí: Chị D phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành là hoàn toàn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 266; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Hồng D. Xử cho chị Nguyễn Thị Hồng D được ly hôn với anh Hoàng Mạnh G.
- Về con chung: Giao cháu Hoàng Gia P, sinh ngày 31/7/2020 cho chị Nguyễn Thị Hồng D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời, anh G không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn anh G vẫn phải có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung. Không ai được cản trở anh G thực hiện quyền, nghĩa vụ này. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên cũng như cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị D đã nộp theo biên lai thu số 0009034 ngày 15/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành, chị D đã nộp xong.
Chị Nguyễn Thị Hồng D và anh Hoàng Mạnh G được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND H. Long Thành; - Chi cục THADS H. Long Thành; - UBND xã Phước Bình; - Các đương sự; - Lưu. HỘI THẨM NHÂN DÂN Lưu Đức Chung Phan Văn Trường CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Nhật Lệ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Nhật Lệ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |