vanban.org

Bản án 86/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn Trần Thanh P. Về hôn nhân: Không công nhận ông Trần Thanh P với bà Phạm Thị Lệ H là vợ chồng.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LAI VUNG
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 17-8-2023
V/v: T/c ly hôn và nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Cẩm Hồng.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phát Triển - Ông Nguyễn Chí Công.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Vinh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 17 tháng 8 năm 2023, tại phòng xử án của trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 208/2023/TLST-HNGĐ, ngày 13/7/2023, về việc “Hôn nhân - gia đình ly hôn và nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 02 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Trần Thanh P, sinh năm: 1972.

Địa chỉ: 7, ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Bị đơn: Phạm Thị Lệ H, sinh năm: 1974.

Địa chỉ: D, ấp Đ, xã Đ, huyện L, Đồng Tháp.

Ông P, bà H có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các đơn khởi kiện, các Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nguyên đơn Trần Thanh P trình bày:

Về hôn nhân: Vào năm 1992, ông và bà H tổ chức đám cưới, đến nay không đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, thường cự cãi với nhau, dẫn đến không hạnh phúc nên ông P về Cần Thơ sinh sống từ năm 2012 đến nay. Nay ông yêu cầu Tòa án không công nhận ông và bà H là vợ chồng.

Về con chung: Có 04 người con: Trần Kim D, sinh năm 1993; Trần Kim T, sinh năm 1996; Trần Bảo A, sinh năm 2005 đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết; Ông yêu cầu nuôi Trần Kim N, sinh ngày 31/12/2006, không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn Phạm Thị Lệ H trình bày tại các Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải:

Về hôn nhân: Bà thống nhất lời trình bày của ông P là đúng, bà chung sống như vợ chồng với ông P từ năm 2012 đến này, chưa đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, thường cự cãi với nhau, dẫn đến không hạnh phúc nên ông P về Cần Thơ sinh sống từ năm 2012 đến nay. Nay bà yêu cầu Tòa án không công nhận bà và ông P là vợ chồng.

Về con chung: Có 04 người con: Trần Kim D, sinh năm 1993; Trần Kim T, sinh năm 1996; Trần Bảo A, sinh năm 2005 đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết; Bà đồng ý ông P nuôi Trần Kim N, sinh ngày 31/12/2006, bà không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về thủ tục tố tụng: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thanh P yêu cầu không công nhận hôn nhân với bà Phạm Thị Lệ H, yêu cầu nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu giải quyết về tài sản và nợ chung. Bà H cư trú tại huyện L và các yêu cầu khởi kiện của ông P thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông Trần Thanh P và bà Phạm Thị Lệ H cùng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn, bị đơn, theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Hội đồng xét xử, xét thấy ông P và bà H chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1992 nhưng đến nay không đăng ký kết hôn nên không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Do đó Hội đồng xét xử không công nhận ông P và bà H là vợ chồng, phù hợp quy định tại Điều 9 và Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tại Điều 9 quy định:

Khoản 1: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.

Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.

Khoản 2: “Vợ chồng đã ly hôn muốn xác lập lại quan hệ vợ chồng thì phải đăng ký kết hôn”

Tại Điều 14 quy định:

Khoản 1: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này”.

Khoản 2. “Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn”.

[2] Về con chung:

Hội đồng xét xử xét thấy, đối với 03 người con: Trần Kim D, sinh năm 1993; Trần Kim T, sinh năm 1996; Trần Bảo A, sinh năm 2005 đã trưởng thành, ông P, bà H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xém xét giải quyết.

Ông P yêu cầu nuôi Trần Kim N, sinh ngày 31/12/2006, cháu N có nguyện vọng sống chung với ông P và bà H cũng đồng ý ông P nuôi con nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này phù hợp quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về cấp dưỡng: Hội đồng xét xử xét thấy ông P không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung: Ông P và bà H không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về nợ chung: Ông P và bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Ông P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân gia đình về ly hôn theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 9, Điều 14, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn Trần Thanh P.

1. Về hôn nhân: Không công nhận ông Trần Thanh P với bà Phạm Thị Lệ H là vợ chồng.

2. Về con chung: Ông Trần Thanh P được quyền nuôi dưỡng Trần Kim N, sinh ngày 31/12/2006.

Ông Trần Thanh P cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở bà Phạm Thị Lệ H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về án phí và tạm ứng án phí:

Ông Trần Thanh P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân gia đình về ly hôn 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Được khấu trừ 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007278, ngày 12/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

4. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (17/8/2023). Đối với nguyên đơn, bị đơn không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ