- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị T - Nguyễn Văn L - T/C ly hôn"
- Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T về việc “Ly hôn”.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 86/2023/HNGĐ-ST Ngày: 28 - 8 - 2023 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Công Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Di.
2. Ông Nguyễn Bá Lộc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Long – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Long Điền, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân Gia đình thụ lý số 195/2020/TLST – HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2023, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2023/QĐXX – ST ngày 24-7-2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 58/2023/QĐST-DS ngày 11-8-2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phạm Thị T, sinh năm 1978 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ A, khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1974 (mất tích theo Quyết định số 08/2023/QĐST-VDS ngày 18-5-2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền – ông L vắng mặt).
Nơi cư trú cuối cùng: Tổ A, khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1] Theo đơn khởi kiện đề ngày 30 tháng 5 năm 2023 và quá trình tố tụng tại Tòa, bà Phạm Thị T trình bày: Bà và ông Nguyễn Văn L là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang, vào ngày 14-7-2006. Sau khi kết hôn vợ chồng ông bà sinh sống tại tổ A, khu phố H, T, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Năm 2017, do kinh tế gia đình khó khăn, vợ chồng không đồng cảm chia sẻ, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nên ông L bỏ đi từ đó tới
- 1 -
nay không liên lạc với gia đình. Từ ngày Nguyễn Văn L bỏ nhà ra đi đến nay bà đã đi tìm kiếm nhiều nơi, hỏi qua bạn bè, người thân của ông L nhưng không ai biết gì về tin tức. Sau 01 thời gian tìm kiếm không có kết quả, bà đã làm Đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Long Điền tuyên bố ông L mất tích. Đến ngày 16-5-2023, Tòa án nhân dân huyện Long Điền đã ban hành Quyết định số 08/2023/QĐST-VDS tuyên bố ông Nguyễn Văn L là mất tích, nay bà T yêu cầu:
- Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn L.
- Về con chung: Bà Phạm Thị T và ông Nguyễn Văn L không có con chung.
- Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[2] Bị đơn, ông Nguyễn Văn L đã được Tòa án niêm yết theo thủ tục chung nhưng không đến Tòa làm việc nên không có ý kiến.
[3] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Chủ tọa phiên tòa, Hội thẩm nhân dân, Thư ký thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại BLTTDS năm 2015. Phiên tòa diễn ra đúng thời gian, địa điểm được thông báo. Quá trình xét xử tuân thủ đúng trình tự quy định tại BLTTDS năm 2015.
- Về nội dung vụ án: Căn cứ vào tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự tại Tòa, xét thấy bà T, ông Nguyễn Văn L đã không còn chung sống với nhau do vậy mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T; về con chung bà T và ông L không có con chung nên đề nghị HĐXX không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về Tố tụng: Bà Phạm Thị T có đơn khởi kiện “Yêu cầu ly hôn” với ông Nguyễn Văn L; ông L có nơi cư trú cuối cùng tại 1, khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nên căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Long Điền thụ lý giải quyết vụ kiện là đúng thẩm quyền.
Tại phiên tòa, nguyên đơn, bà Phạm Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn, ông Nguyễn Văn L đã bị Tòa án nhân dân huyện Long Điền tuyên bố mất tích và không có mặt tại phiên tòa mặc dù đã được tống đạt hợp lệ, do đó căn cứ theo quy định tại Điều 227 của BLTTDS, HĐXX xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về nội dung: Bà Phạm Thị T và ông Nguyễn Văn L có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang, vào ngày 14-7-2006, phù hợp với Giấy chứng nhận kết hôn do bà T cung cấp nên hôn nhân giữa ba T và
- 2 -
ông L là hôn nhân hợp pháp. Hôn nhân của bà T và ông L là hoàn toàn tự nguyện, đúng theo quy định của pháp luật.
Theo bà Phạm Thị T thì nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do kinh tế gia đình khó khăn, không đồng cảm chia sẻ, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nên ông L bỏ đi từ đó tới nay không liên lạc với gia đình. Bà có tìm kiếm ông L khắp nơi nhưng không thấy. Ngày 16-5-2023, Tòa án nhân dân huyện Long Điền đã ban hành Quyết định số 08/2023/QĐST-VDS tuyên bố ông Nguyễn Văn L là mất tích, xác định ông L là mất tích nên căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị T.
Về con chung: Quá trình chung sống bà T và ông L không có con chung nên HĐXX không xem xét.
Tài sản chung, nợ chung: Bà Phạm Thị T không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.
Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Phạm Thị T phải nộp theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 235; Điều 266; Điều 271; Điều 273 của BLTTDS năm 2015;
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T về việc “Ly hôn”.
[1.1] Về hôn nhân: Bà Phạm Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Văn L.
[1.2] Về con chung: Bà Phạm Thị T và ông Nguyễn Văn L không có con chung.
[1.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phạm Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[2] Về án phí hôn nhân và gia đình: Bà Phạm Thị T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo Biên lai số 0001759 ngày 30-5-2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Long Điền, bà Phạm Thị T đã nộp xong án phí.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.
- 3 -
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh BR- VT; - VKSND H. Long Điền; - THA Dân sự H. Long Điền; - UBND thị trấn Tri Tôn, huyện Tri Tôn; tỉnh An Giang; - Các đương sự; - Lưu. - 4 - | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Dương Công Hiếu |