vanban.org

Bản án 86/2023/DSST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của chị Thạch Thị Chanh Đ về việc rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền hụi sống ở dây hụi số 20, 31 bằng 2.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Thạch Thị Chanh Đ. Buộc chị Thạch Thị Ph trả cho chị Thạch Thị Chanh Đ tiền hụi đã nhận tổng cộng bằng 173.430.000 đồng đồng (Loại hụi 5.000.000 đồng, mở ngày 30/11/2019 DL, dây hụi số: 01, 02, 03, 04, 05, 06, 07, 08, 09, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "hụi"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của chị Thạch Thị Chanh Đ về việc rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền hụi sống ở dây hụi số 20, 31 bằng 2.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN TIỂU CẦN
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2023/DSST
Ngày: 24-4-2023
V/v Tranh chấp hợp đồng
dân sự về góp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Mỹ Chấm

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung;

Ông Lê Thanh Bình.

- Thư ký phiên tòa: Bà Sơn Thị Hoa Lan- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Danh, Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 4 năm 2023, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 106/2022/TLST–DS, ngày 20-10-2022; về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 159/2023/QĐXXST-DS, ngày 03-4-2023; giữa:

Nguyên đơn: Chị Thạch Thị Chanh Đ, sinh năm 1976; Địa chỉ: Ấp Ô Tr, xã Hiếu T, huyện Tiểu C, tỉnh Trà Vinh (Có đơn xin vắng mặt).

Bị đơn: Chị Thạch Thị Ph, sinh năm 1973; Địa chỉ: Ấp Ô Tr, xã Hiếu T, huyện Tiểu C, tỉnh Trà Vinh (Vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 15 người

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện trong quá trình giải quyết nguyên đơn chị Thạch Thị Chanh Đ trình bày:

Ngày 30/11/2019 DL chị có tổ chức khui 32 dây hụi, chị Thạch Thị Ph (Phoi) tham gia 32 dây, mỗi dây tham gia 01 phần, hình thức tham gia góp hụi được thỏa thuận như sau: Loai hụi 5.000.000 đồng, chỉ thỏa thuận bằng lời nói không có làm văn bản, chị có giao danh sách hụi viên cho các hụi viên tham gia theo dõi, mỗi dây hụi gồm có 16 phần, huê hồng đầu thảo hưởng bằng 1.500.000 đồng/lần hốt, nữa tháng khui 01 lần, sau khi khui hụi, chủ hụi có trách nhiệm gom tiền của các hụi viên rồi giao cho người trúng thăm hốt hụi, 32 dây hụi chị tổ chức khui đến lần thứ 13, ở lần khui thứ 14 chị úp hụi, mỗi dây còn lại 03 lần khui mới mãn hụi, cụ thể từng dây hụi chị Ph tham gia và bỏ thăm hốt hụi như sau:

Dây 01: Chị Ph tham gia 01 phần, từ lần khui hụi thứ 01 đến thứ 11 chị Ph đóng hụi sống đầy đủ, ở lần khui hụi thứ 12 chị Ph bỏ thăm 3.130.000 đồng là người trúng thăm hốt hụi, tiền hụi chị Ph được nhận bằng 60.980.000 đồng đã trừ huê hồng, chị giao tiền cho chị Ph nhận, không có làm giấy tờ. Sau khi hốt hụi chị Ph đóng hụi chết đến lần thứ 13, yêu cầu chị Ph trả lại 03 lần tiền hụi đã nhận bằng 5.610.000 đồng.

Dây 02: Chị Ph tham gia 01 phần, ở lần khui hụi thứ 01 chị Ph bỏ thăm 1.500.000 đồng là người trúng thăm hốt hụi, tiền hụi chị Ph được nhận bằng 60.980.000 đồng đã trừ huê hồng, chị giao tiền cho chị Ph nhận, không có làm giấy tờ. Sau khi hốt hụi chị Ph đóng hụi chết đến lần thứ 13, yêu cầu chị Ph trả lại 03 lần tiền hụi đã nhận bằng 10.500.000 đồng.

Dây 03: Chị Ph tham gia 01 phần, từ lần khui hụi thứ 01 đến thứ 09 chị Ph đóng hụi sống đầy đủ, ở lần khui hụi thứ 10 chị Ph bỏ thăm 3.600.000 đồng là người trúng thăm hốt hụi, tiền hụi chị Ph được nhận bằng 51.900.000 đồng đã trừ huê hồng, chị giao tiền cho chị Ph nhận, không có làm giấy tờ. Sau khi hốt hụi chị Ph đóng hụi chết đến lần thứ 13, yêu cầu chị Ph trả lại 03 lần tiền hụi đã nhận bằng 4.200.000 đồng.

Dây 04: Chị Ph tham gia 01 phần, từ lần khui hụi thứ 01 đến thứ 04 chị Ph đóng hụi sống đầy đủ, ở lần khui hụi thứ 05 chị Ph bỏ thăm 2.500.000 đồng là người trúng thăm hốt hụi, tiền hụi chị Ph được nhận bằng 46.000.000 đồng đã trừ huê hồng, chị giao tiền cho chị Ph nhận, không có làm giấy tờ. Sau khi hốt hụi chị Ph đóng hụi chết đến lần thứ 13, yêu cầu chị Ph trả lại 03 lần tiền hụi đã nhận bằng 7.500.000 đồng.

Dây 05: Chị Ph tham gia 01 phần, ở lần khui hụi thứ 01 chị Ph bỏ thăm 1.500.000 đồng là người trúng thăm hốt hụi, tiền hụi chị Ph được nhận bằng 51.000.000 đồng đã trừ huê hồng, chị giao tiền cho chị Ph nhận, không có làm giấy tờ. Sau khi hốt hụi chị Ph đóng hụi chết đến lần thứ 13, yêu cầu chị Ph trả lại 03 lần tiền hụi đã nhận bằng 10.500.000 đồng.

Dây 06: Chị Ph tham gia 01 phần, từ lần khui hụi thứ 01 đến thứ 08 chị Ph đóng hụi sống đầy đủ, ở lần khui hụi thứ 09 chị Ph bỏ thăm 3.780.000 đồng là người trúng thăm hốt hụi, tiền hụi chị Ph được nhận bằng 47.040.000 đồng đã trừ huê hồng, chị giao tiền cho chị Ph nhận, không có làm giấy tờ. Sau khi hốt hụi chị Ph đóng hụi chết đến lần thứ 13, yêu cầu chị Ph trả lại 03 lần tiền hụi đã nhận bằng 3.660.000 đồng.

Dây 07: Chị Ph tham gia 01 phần, từ lần khui hụi thứ 01 đến thứ 08 chị Ph đóng hụi sống đầy đủ, ở lần khui hụi thứ 09 chị Ph bỏ thăm 3.780.000 đồng là người trúng thăm hốt hụi, tiền hụi chị Ph được nhận bằng 47.040.000 đồng đã trừ huê hồng, chị giao tiền cho chị Ph nhận, không có làm giấy tờ. Sau khi hốt hụi chị Ph đóng hụi chết đến lần thứ 13, yêu cầu chị Ph trả lại 03 lần tiền hụi đã nhận bằng 3.660.000 đồng.

Dây 08: Chị Ph tham gia 01 phần, từ lần khui hụi thứ 01 đến thứ 10 chị Ph đóng hụi sống đầy đủ, ở lần khui hụi thứ 11 chị Ph bỏ thăm 3.910.000 đồng là người trúng thăm hốt hụi, tiền hụi chị Ph được nhận bằng 53.950.000 đồng đã trừ huê hồng, chị giao tiền cho chị Ph nhận, không có làm giấy tờ. Sau khi hốt hụi chị Ph đóng hụi chết đến lần thứ 13, yêu cầu chị Ph trả lại 03 lần tiền hụi đã nhận bằng 3.270.000 đồng.

Dây 09: Chị Ph tham gia 01 phần, từ lần khui hụi thứ 01 đến thứ 05 chị Ph đóng hụi sống đầy đủ, ở lần khui hụi thứ 06 chị Ph bỏ thăm 3.580.000 đồng là người trúng thăm hốt hụi, tiền hụi chị Ph được nhận bằng 37.700.000 đồng đã trừ huê hồng, chị giao tiền cho chị Ph nhận, không có làm giấy tờ. Sau khi hốt hụi chị Ph đóng hụi chết đến lần thứ 13, yêu cầu chị Ph trả lại 03 lần tiền hụi đã nhận bằng 4.260.000 đồng.

Dây 10: Chị Ph tham gia 01 phần, từ lần khui hụi thứ 01 đến thứ 11 chị Ph đóng hụi sống đầy đủ, ở lần khui hụi thứ 12 chị Ph bỏ thăm 3.130.000 đồng là người trúng thăm hốt hụi, tiền hụi chị Ph được nhận bằng 51.900.000 đồng đã trừ huê hồng, chị giao tiền cho chị Ph nhận, không có làm giấy tờ. Sau khi hốt hụi chị Ph đóng hụi chết đến lần thứ 13, yêu cầu chị Ph trả lại 03 lần tiền hụi đã nhận bằng 5.070.000 đồng.

Dây 11: Chị Ph tham gia 01 phần, từ lần khui hụi thứ 01 đến thứ 03 chị Ph đóng hụi sống đầy đủ, ở lần khui hụi thứ 04 chị Ph bỏ thăm 2.500.000 đồng là người trúng thăm hốt hụi, tiền hụi chị Ph được nhận bằng 43.500.000 đồng đã trừ huê hồng, chị giao tiền cho chị Ph nhận, không có làm giấy tờ. Sau khi hốt hụi chị Ph đóng hụi chết đến lần thứ 13, yêu cầu chị Ph trả lại 03 lần tiền hụi đã nhận bằng 7.500.000 đồng.

Dây 12: Chị Ph tham gia 01 phần, ở lần khui hụi thứ 01 chị Ph đóng hụi sống đầy đủ, ở lần khui hụi thứ 02 chị Ph bỏ thăm 2.500.000 đồng là người trúng thăm hốt hụi, tiền hụi chị Ph được nhận bằng 38.500.000 đồng đã trừ huê hồng, chị giao tiền cho chị Ph nhận, không có làm giấy tờ. Sau khi hốt hụi chị Ph đóng hụi chết đến lần thứ 13, yêu cầu chị Ph trả lại 03 lần tiền hụi đã nhận bằng 7.500.000 đồng.

Dây 13: Chị Ph tham gia 01 phần, từ lần khui hụi thứ 01 đến thứ 05 chị Ph đóng hụi sống đầy đủ, ở lần khui hụi thứ 06 chị Ph bỏ thăm 3.600.000 đồng là người trúng thăm hốt hụi, tiền hụi chị Ph được nhận bằng 37.500.000 đồng đã trừ huê hồng, chị giao tiền cho chị Ph nhận, không có làm giấy tờ. Sau khi hốt hụi chị Ph đóng hụi chết đến lần thứ 13, yêu cầu chị Ph trả lại 03 lần tiền hụi đã nhận bằng 4.200.000 đồng.

Dây 14: Chị Ph tham gia 01 phần, từ lần khui hụi thứ 01 đến thứ 11 chị Ph đóng hụi sống đầy đủ, ở lần khui hụi thứ 12 chị Ph bỏ thăm 3.290.000 đồng là người trúng thăm hốt hụi, tiền hụi chị Ph được nhận bằng 60.340.000 đồng đã trừ huê hồng, chị giao tiền cho chị Ph nhận, không có làm giấy tờ. Sau khi hốt hụi chị Ph đóng hụi chết đến lần thứ 13, yêu cầu chị Ph trả lại 03 lần tiền hụi đã nhận bằng 5.130.000 đồng.

Dây 15: Chị Ph tham gia 01 phần, từ lần khui hụi thứ 01 đến thứ 06 chị Ph đóng hụi sống đầy đủ, ở lần khui hụi thứ 07 chị Ph bỏ thăm 3.660.000 đồng là người trúng thăm hốt hụi, tiền hụi chị Ph được nhận bằng 40.560.000 đồng đã trừ huê hồng, chị giao tiền cho chị Ph nhận, không có làm giấy tờ. Sau khi hốt hụi chị Ph đóng hụi chết đến lần thứ 13, yêu cầu chị Ph trả lại 03 lần tiền hụi đã nhận bằng 4.020.000 đồng.

Dây 16: Chị Ph tham gia 01 phần, từ lần khui hụi thứ 01 đến thứ 07 chị Ph đóng hụi sống đầy đủ, ở lần khui hụi thứ 12 chị Ph bỏ thăm 3.800.000 đồng là người trúng thăm hốt hụi, tiền hụi chị Ph được nhận bằng 43.100.000 đồng đã trừ huê hồng, chị giao tiền cho chị Ph nhận, không có làm giấy tờ. Sau khi hốt hụi chị Ph đóng hụi chết đến lần thứ 13, yêu cầu chị Ph trả lại 03 lần tiền hụi đã nhận bằng 3.600.000 đồng.

Dây 17: Chị Ph tham gia 01 phần, từ lần khui hụi thứ 01 đến thứ 10 chị Ph đóng hụi sống đầy đủ, ở lần khui hụi thứ 11 chị Ph bỏ thăm 3.890.000 đồng là người trúng thăm hốt hụi, tiền hụi chị Ph được nhận bằng 54.050.000 đồng đã trừ huê hồng, chị giao tiền cho chị Ph nhận, không có làm giấy tờ. Sau khi hốt hụi chị Ph đóng hụi chết đến lần thứ 13, yêu cầu chị Ph trả lại 03 lần tiền hụi đã nhận bằng 3.330.000 đồng.

Dây 18: Chị Ph tham gia 01 phần, từ lần khui hụi thứ 01 đến thứ 03 chị Ph đóng hụi sống đầy đủ, ở lần khui hụi thứ 04 chị Ph bỏ thăm 2.500.000 đồng là người trúng thăm hốt hụi, tiền hụi chị Ph được nhận bằng 43.500.000 đồng đã trừ huê hồng, chị giao tiền cho chị Ph nhận, không có làm giấy tờ. Sau khi hốt hụi chị Ph đóng hụi chết đến lần thứ 13, yêu cầu chị Ph trả lại 03 lần tiền hụi đã nhận bằng 7.500.000 đồng.

Dây 19: Chị Ph tham gia 01 phần, từ lần khui hụi thứ 01 đến thứ 07 chị Ph đóng hụi sống đầy đủ, ở lần khui hụi thứ 08 chị Ph bỏ thăm 3.800.000 đồng là người trúng thăm hốt hụi, tiền hụi chị Ph được nhận bằng 43.100.000 đồng đã trừ huê hồng, chị giao tiền cho chị Ph nhận, không có làm giấy tờ. Sau khi hốt hụi chị Ph đóng hụi chết đến lần thứ 13, yêu cầu chị Ph trả lại 03 lần tiền hụi đã nhận bằng 3.600.000 đồng.

Dây 20: Chị Ph tham gia 01 phần, từ lần khui hụi thứ 01 đến thứ 08 chị Ph đóng hụi sống đầy đủ, ở lần khui hụi thứ 09 chị Ph bỏ thăm 3.770.000 đồng là người trúng thăm hốt hụi, tiền hụi chị Ph được nhận bằng 47.110.000 đồng đã trừ huê hồng, chị giao tiền cho chị Ph nhận, không có làm giấy tờ. Sau khi hốt hụi chị Ph đóng hụi chết đến lần thứ 13, yêu cầu chị Ph trả lại 03 lần tiền hụi đã nhận bằng 3.690.000 đồng.

Dây 21: Chị Ph tham gia 01 phần, từ lần khui hụi thứ 01 đến thứ 11 chị Ph đóng hụi sống đầy đủ, ở lần khui hụi thứ 12 chị Ph bỏ thăm 3.230.000 đồng là người trúng thăm hốt hụi, tiền hụi chị Ph được nhận bằng 60.580.000 đồng đã trừ huê hồng, chị giao tiền cho chị Ph nhận, không có làm giấy tờ. Sau khi hốt hụi chị Ph đóng hụi chết đến lần thứ 13, yêu cầu chị Ph trả lại 03 lần tiền hụi đã nhận bằng 5.310.000 đồng.

Dây 22: Chị Ph tham gia 01 phần, từ lần khui hụi thứ 01 đến thứ 06 chị Ph đóng hụi sống đầy đủ, ở lần khui hụi thứ 12 chị Ph bỏ thăm 3.670.000 đồng là người trúng thăm hốt hụi, tiền hụi chị Ph được nhận bằng 10.470.000 đồng đã trừ huê hồng, chị giao tiền cho chị Ph nhận, không có làm giấy tờ. Sau khi hốt hụi chị Ph đóng hụi chết đến lần thứ 13, yêu cầu chị Ph trả lại 03 lần tiền hụi đã nhận bằng 3.990.000 đồng.

Dây 23: Chị Ph tham gia 01 phần, ở lần khui hụi thứ 01 chị Ph đóng hụi sống đầy đủ, ở lần khui hụi thứ 02 chị Ph bỏ thăm 2.500.000 đồng là người trúng thăm hốt hụi, tiền hụi chị Ph được nhận bằng 38.500.000 đồng đã trừ huê hồng, chị giao tiền cho chị Ph nhận, không có làm giấy tờ. Sau khi hốt hụi chị Ph đóng hụi chết đến lần thứ 13, yêu cầu chị Ph trả lại 03 lần tiền hụi đã nhận bằng 7.500.000 đồng.

Dây 24: Chị Ph tham gia 01 phần, từ lần khui hụi thứ 01, 02 chị Ph đóng hụi sống đầy đủ, ở lần khui hụi thứ 03 chị Ph bỏ thăm 2.500.000 đồng là người trúng thăm hốt hụi, tiền hụi chị Ph được nhận bằng 41.000.000 đồng đã trừ huê hồng, chị giao tiền cho chị Ph nhận, không có làm giấy tờ. Sau khi hốt hụi chị Ph đóng hụi chết đến lần thứ 13, yêu cầu chị Ph trả lại 03 lần tiền hụi đã nhận bằng 7.500.000 đồng.

Dây 25: Chị Ph tham gia 01 phần, từ lần khui hụi thứ 01 đến thứ 11 chị Ph đóng hụi sống đầy đủ, ở lần khui hụi thứ 12 chị Ph bỏ thăm 3.210.000 đồng là người trúng thăm hốt hụi, tiền hụi chị Ph được nhận bằng 60.660.000 đồng đã trừ huê hồng, chị giao tiền cho chị Ph nhận, không có làm giấy tờ. Sau khi hốt hụi chị Ph đóng hụi chết đến lần thứ 13, yêu cầu chị Ph trả lại 03 lần tiền hụi đã nhận bằng 5.370.000 đồng.

Dây 26: Chị Ph tham gia 01 phần, từ lần khui hụi thứ 01 đến thứ 03 chị Ph đóng hụi sống đầy đủ, ở lần khui hụi thứ 04 chị Ph bỏ thăm 2.500.000 đồng là người trúng thăm hốt hụi, tiền hụi chị Ph được nhận bằng 41.000.000 đồng đã trừ huê hồng, chị giao tiền cho chị Ph nhận, không có làm giấy tờ. Sau khi hốt hụi chị Ph đóng hụi chết đến lần thứ 13, yêu cầu chị Ph trả lại 03 lần tiền hụi đã nhận bằng 7.500.000 đồng.

Dây 27: Chị Ph tham gia 01 phần, từ lần khui hụi thứ 01 đến thứ 10 chị Ph đóng hụi sống đầy đủ, ở lần khui hụi thứ 11 chị Ph bỏ thăm 33.900.000 đồng là người trúng thăm hốt hụi, tiền hụi chị Ph được nhận bằng 54.000.000 đồng đã trừ huê hồng, chị giao tiền cho chị Ph nhận, không có làm giấy tờ. Sau khi hốt hụi chị Ph đóng hụi chết đến lần thứ 13, yêu cầu chị Ph trả lại 03 lần tiền hụi đã nhận bằng 3.300.000 đồng.

Dây 28: Chị Ph tham gia 01 phần, từ lần khui hụi thứ 01 đến thứ 09 chị Ph đóng hụi sống đầy đủ, ở lần khui hụi thứ 10 chị Ph bỏ thăm 3.600.000 đồng là người trúng thăm hốt hụi, tiền hụi chị Ph được nhận bằng 51.900.000 đồng đã trừ huê hồng, chị giao tiền cho chị Ph nhận, không có làm giấy tờ. Sau khi hốt hụi chị Ph đóng hụi chết đến lần thứ 13, yêu cầu chị Ph trả lại 03 lần tiền hụi đã nhận bằng 4.200.000 đồng.

Dây 29: Chị Ph tham gia 01 phần, từ lần khui hụi thứ 01 đến thứ 04 chị Ph đóng hụi sống đầy đủ, ở lần khui hụi thứ 05 chị Ph bỏ thăm 2.500.000 đồng là người trúng thăm hốt hụi, tiền hụi chị Ph được nhận bằng 46.000.000 đồng đã trừ huê hồng, chị giao tiền cho chị Ph nhận, không có làm giấy tờ. Sau khi hốt hụi chị Ph đóng hụi chết đến lần thứ 13, yêu cầu chị Ph trả lại 03 lần tiền hụi đã nhận bằng 7.500.000 đồng.

Dây 30: Chị Ph tham gia 01 phần, từ lần khui hụi thứ 01 đến thứ 05 chị Ph đóng hụi sống đầy đủ, ở lần khui hụi thứ 06 chị Ph bỏ thăm 3.580.000 đồng là người trúng thăm hốt hụi, tiền hụi chị Ph được nhận bằng 37.700.000 đồng đã trừ huê hồng, chị giao tiền cho chị Ph nhận, không có làm giấy tờ. Sau khi hốt hụi chị Ph đóng hụi chết đến lần thứ 13, yêu cầu chị Ph trả lại 03 lần tiền hụi đã nhận bằng 4.260.000 đồng.

Dây 31: Chị Ph tham gia 01 phần, ở lần khui hụi thứ 01 chị Ph đóng hụi sống đầy đủ, ở lần khui hụi thứ 02 chị Ph bỏ thăm 2.500.000 đồng là người trúng thăm hốt hụi, tiền hụi chị Ph được nhận bằng 38.500.000 đồng đã trừ huê hồng, chị giao tiền cho chị Ph nhận, không có làm giấy tờ. Sau khi hốt hụi chị Ph đóng hụi chết đến lần thứ 13, yêu cầu chị Ph trả lại 03 lần tiền hụi đã nhận bằng 7.500.000 đồng.

Dây 32: Chị Ph tham gia 01 phần, từ lần khui hụi thứ 01 đến thứ 06 chị Ph đóng hụi sống đầy đủ, ở lần khui hụi thứ 07 chị Ph bỏ thăm 3.690.000 đồng là người trúng thăm hốt hụi, tiền hụi chị Ph được nhận bằng 40.290.000 đồng đã trừ huê hồng, chị giao tiền cho chị Ph nhận, không có làm giấy tờ. Sau khi hốt hụi chị Ph đóng hụi chết đến lần thứ 13, yêu cầu chị Ph trả lại 03 lần tiền hụi đã nhận bằng 3.930.000 đồng.

Tổng cộng chị Chanh Đ yêu cầu ở các dây hụi trên bằng 176.160.000 đồng, trong quá trình giải quyết chị Chanh Đ xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền hụi sống của bà Thạch Thị Hồng (Hồng Sol) ở dây hụi số 20, 31 bằng 2.730.000 đồng.

Nay chị Chanh Đ yêu cầu chị Thạch Thị Ph trả lại tiền hụi đã nhận 03 lần tổng cộng bằng 173.430.000 đồng (Loại hụi 5.000.000 đồng, mở ngày 30/11/2019 DL, dây hụi số: 01, 02, 03, 04, 05, 06, 07, 08, 09,10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32). Chị Đ không yêu cầu tính lãi.

Chị Thạch Thị Chanh Đ có đơn xin vắng mặt.

Đối với bị đơn: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt hợp lệ các thủ tục như Thông báo về việc thụ lý vụ án, các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, nhưng chị Thạch Thị Ph không đến Tòa án tham gia tố tụng, Tòa án không tiến hành lấy lời khai được đối với chị Ph ở các dây hụi trên, nên không xác định được những tình tiết nào của vụ án mà các bên đã thống nhất và không thống nhất. Vì vậy Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xét xử vụ án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng có ý kiến trình bày: Ngày 30/11/2019, chị Chanh Đ có tổ chức khui 32 dây hụi, loại hụi 5.000.000 đồng, mỗi dây có 16 phần, chị Chanh Đ úp hụi ở lần khui thứ 13, tất cả 32 dây hụi trên còn 03 lần khui mới mãn hụi. Sau khi úp hụi chủ hụi và hụi viên có tính toán cấn trừ 03 lần tiền hụi sống ở các dây hụi trên, không có ai khởi kiện chị Chanh Đ để mọi người giải quyết sau, các phần hụi mà chị Chanh Đ khởi kiện thống nhất để cho chị Chanh Đ giải quyết với chị Ph.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt.

Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn có cung cấp tài liệu chứng cứ gồm: 32 danh sách hụi viên (photo); 01 chứng minh nhân dân tên Chanh Đ và 01 Sổ hộ khẩu gia đình (photo); các biên nhận tính tiền hụi giữa chủ hụi với hụi viên (photo); Bị đơn không có cung cấp tài liệu chứng cứ.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng nhiệm vụ, quyền hạn và tuân thủ đúng trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đương sự tham gia tố tụng trong vụ án đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Chị Thạch Thị Ph, chị Sơn Thị Sa Rane, bà Thạch Thị Hồng, bà Thạch Thị Thone và chị Thạch Thị Hoanh Ny chưa chấp hành đúng theo quy định của pháp luật còn vắng mặt tại các phiên hòa giải và phiên tòa.

Về nội dung vụ án: Sau khi tóm tắt nội dung vụ án Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của chị Thạch Thị Chanh Đ.

2. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Thạch Thị Chanh Đ.

3. Buộc chị Thạch Thị Ph trả cho chị Thạch Thị Chanh Đ tiền hụi đã nhận tổng cộng bằng 173.430.000 đồng (Loại hụi 5.000.000 đồng, mở ngày 30/11/2019 DL, dây hụi số: 01, 02, 03, 04, 05, 06, 07, 08, 09, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32); Chị Thạch Thị Chanh Đ không yêu cầu tính lãi.

4. Về án phí đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn cư trú tại huyện Tiểu Cần theo quy định tại Điều 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần; Bị đơn không có yêu cầu phản tố, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập.

Chị Thạch Thị Chanh Đ, chị Thạch Thị Mươi, chị Sơn Thị Sa Ry, chị Thạch Thị Thâm, chị Thạch Thị Phượng, chị Sơn Thị Sa Vương, chị Sơn Thị Hồng, chị Thạch Thị Kim Lành, bà Thạch Thị Mẫn, chị Thạch Thị Thy, chị Trần Thị Hà, chị Thạch Thị Chênh và anh Thạch Thươnl có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự vẫn xét xử vụ án.

Chị Sơn Thị Sa Rane, chị Thạch Thị Hoanh Ny, bà Thạch Thị Hồng, chị Thạch Thị Thone và chị Thạch Thị Ph trong quá trình tiến hành tố tụng và giải quyết vụ án đều vắng mặt, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự vẫn xét xử vụ án.

. Chị Thạch Thị Chanh Đ có đơn xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện với số tiền hụi sống ở 02 dây số 20, 31 bằng 2.730.000 đồng đối với hụi viên bà Thạch Thị Hồng (Hồng Sol); Xét thấy, việc rút lại một phần yêu cầu khởi kiện của chị Chanh Đ là hoàn toàn tự nguyện phù hợp với quy định tại Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của chị Chanh Đ.

. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Chị Thạch Thị Chanh Đ yêu cầu chị Thạch Thị Ph trả tiền hụi đã nhận tổng cộng bằng 173.430.000 đồng (Loại hụi 5.000.000 đồng, mở ngày 30/11/2019 DL, dây hụi số: 02, 03, 04, 05, 06, 08, 09, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32); Chị Thạch Thị Chanh Đ không yêu cầu tính lãi.

. Đối với chị Ph mặc dù không đến Tòa án để giải quyết vụ kiện với chị Chanh Đ, nhưng Tòa án có sao gửi các chứng cứ mà chị Chanh Đ nộp khởi kiện gồm: đơn khởi kiện, 32 danh sách hụi viên thể hiện chị là hụi viên có tham gia 32 dây hụi trên và những chứng cứ khác có liên quan để chị có ý kiến hoặc phản bác về những chứng cứ mà chị Chanh Đ nộp khởi kiện chị. Trong quá trình giải quyết những hụi viên còn sống cũng có ý kiến thống nhất vào ngày 30/11/2019, chị Chanh Đ có tổ chức khui 32 dây hụi, loại hụi 5.000.000 đồng, mỗi dây có 16 phần, chị Chanh Đ úp hụi ở lần khui thứ 13, tất cả các dây hụi trên còn 03 lần khui nữa mới mãn hụi. Sau khi úp hụi chủ hụi và hụi viên đã tính toán cấn trừ 03 lần tiền hụi sống ở các dây hụi trên xong, không có ai khởi kiện chị Chanh Đ chung cùng vụ kiện này, thống nhất để cho chị Chanh Đ giải quyết với chị Ph, do chị Ph không có ý kiến về nội dung chị Chanh Đ khởi kiện, Hội đồng xét xử căn cứ vào những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết vụ án.

Từ những nhận định nêu trên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, chị Chanh Đ không có yêu cầu tính lãi nên không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn chị Thạch Thị Ph phải chịu theo quy định của pháp luật.

Nguyên đơn chị Thạch Thị Chanh Đ không phải chịu án phí.

Xét thấy, đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ theo quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 91, 92, 147 và Điều 227, 228, 244, 273, 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 471 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi biêu phường;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của chị Thạch Thị Chanh Đ về việc rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền hụi sống ở dây hụi số 20, 31 bằng 2.730.000 đồng của hụi viên bà Thạch Thị Hồng.

2. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Thạch Thị Chanh Đ.

3. Buộc chị Thạch Thị Ph trả cho chị Thạch Thị Chanh Đ tiền hụi đã nhận tổng cộng bằng 173.430.000 đồng đồng (Loại hụi 5.000.000 đồng, mở ngày 30/11/2019 DL, dây hụi số: 01, 02, 03, 04, 05, 06, 07, 08, 09, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32); Chị Thạch Thị Chanh Đ không yêu cầu tính lãi.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

4. Về án phí: Buộc bị đơn chị Thạch Thị Ph phải chịu 8.671.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Chị Thạch Thị Chanh Đ không phải chịu án phí; Hoàn trả số tiền 4.404.750 đồng theo biên lai thu tiền số 0011645 ngày 20-10-2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh trả lại cho chị Thạch Thị Chanh Đ.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng măt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể tư ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai để xin Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ