- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? của Bộ luật Hình sự năm 2015;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 86/2022/HSST Ngày: 23/9/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HOÀ
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH,
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
TỈNH KHÁNH HOÀ
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hiếu.
Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Thịnh
* Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Huỳnh Thị Xuân Oanh
Ông Cao Nho Trí
* Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Bùi Thị Thu Hà
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Hữu Xuân Qu nh – Thư ký Tòa án nhân dân
2/ Ông Trần Tá thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.
* Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Hữu Xuân
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh tham gia phiên
Quỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh.
toà: Ông Đoàn Văn Huệ - Kiểm sát viên
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh tham
Ngày 23 tháng 9 năm 2022, Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh – tỉnh
gia phiên toà: Ông Lê Quang Khải - Kiểm sát viên.
Khánh Hòa đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai tại các điểm cầu như sau:
Điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Cam Ranh.
Điểm cầu thành phần: Nhà tạm giữ Công an Thành phố C.
Đối với vụ án hình sự thụ lý số: 120/2022/HSST ngày 31 tháng 8 năm
2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2022, đối với bị cáo:
Họ và tên: Phan Văn L, sinh ngày 05 tháng 3 năm 1993, tại C, Khánh
Hòa; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa; Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Phan Văn S và bà: Lê Thị Thúy A; Có vợ (đã ly hôn) và 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2015. Tiền án: Không.
Tiền sự:
- Ngày 16/4/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh áp dụng biện
pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng, tại Quyết định số 13/2020/QĐ-TA, chấp hành xong ngày 01/9/2021.
Nhân thân:
- Ngày 22/6/2015, bị Công an thành phố C xử phạt 1.500.000 đồng về
hành vi trộm cắp tài sản, tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 29/QĐ-XPHC, chấp hành xong ngày 05/8/2015;
- Ngày 26/6/2017, bị Công an phường C xử phạt 750.000 đồng về hành vi
sử dụng trái phép chất ma túy, tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 34/QĐ-XPVPHC, chấp hành xong ngày 27/6/2017;
- Ngày 22/9/2017, bị áp dụng biện pháp giáo dục tại phường C, tại Quyết
định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, T-UBND;
- Ngày 22/02/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh áp dụng biện
pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 02 năm, tại Quyết định số 11/QĐ-TA, chấp hành xong ngày 30/12/2019;
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 30 tháng 5 năm 2022 tại Nhà tạm giữ Công an
thành phố C. Có mặt tại phiên tòa tại điểm cầu thành phần.
Bị hại:
1. Bà Đoàn Thị S1, sinh năm: 1968; Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường B,
thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
2. Bà Nguyễn Thị A1, sinh năm: 1965; Nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường
C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Ả, sinh năm: 1960;
Nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt tại phiên tòa tại điểm cầu trung tâm.
Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn Châu P, sinh năm 1965; Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường
B, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
2. Ông Phạm Đình T, sinh năm 1958; Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường
C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
3. Bà Phạm Nguyễn Nhã P1, sinh năm: 1980; Nơi cư trú: Tổ dân phố T,
phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
4. Ông Phan Văn S, sinh năm: 1971; Nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường C,
thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
5. Bà Lê Thị A2, sinh năm: 1970; Nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường C,
thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Phan Văn L là người nghiện ma túy. Ngày 26 và 28 tháng 5 năm 2022, L
đã hai lần trộm cắp tài sản như sau:
Vụ 1: Khoảng 19 giờ ngày 26 tháng 5 năm 2022, Phan Văn L điều khiển
xe đạp (L khai nhận trộm cắp ở bãi đất trống gần cây xăng số C, phường C, thành phố C) đến đối diện khu vực quán C, thuộc tổ dân phố T, phường C, thành phố C; L thấy xe mô tô 79K9-7455 của bà Đoàn Thị S1 dựng tại vỉa hè, không có người trông coi, chìa khóa xe cắm ở ổ khóa nên L nảy sinh ý định lấy trộm làm phương tiện đi lại. Lai để xe đạp lại rồi lấy xe mô tô điều khiển bỏ đi. Khi đi đến khu vực đường B, thuộc phường B thì L ngủ quên.
Đến khoảng 20 giờ 15 phút cùng ngày, người tên B (chưa rõ lai lịch) thấy
xe của bà S1 đang dựng ở đường B nên thông báo cho bà S1 biết. Bà S1 cùng chồng là Nguyễn Châu P đến thấy L đang nằm ngủ cạnh xe mô tô 79K9-7455 nên bà S1 dắt xe về nhà.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 98/HĐĐG ngày 03 tháng 8 năm 2022
của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C kết luận: Xe mô tô 79K9-7455 trị giá 5.400.000 đồng.
Vụ 2: Khoảng 08 giờ ngày 28 tháng 5 năm 2022, Phan Văn L đi đến
đường H, thuộc tổ dân phố T, phường C, thành phố C; Phan Văn L thấy xe mô tô 79U2-6355 của bà Nguyễn Thị A1 dựng tại đây, chìa khóa xe đang cắm ở ổ khóa. L lấy xe 79U2-6355 rồi điều khiển bỏ đi. Sau đó, L cất giấu xe tại nhà ông Phan Văn S (cha ruột L) thì bị phát hiện.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 65/HĐĐG ngày 01 tháng 6 năm 2022
của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C kết luận: Xe mô tô 79U2-6355 trị giá 6.300.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số 82/CT-VKSCR-HS ngày 31 tháng 8 năm 2022, Viện
kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh đã truy tố bị cáo Phan Văn L tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn
giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phan Văn L; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phan Văn L từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.
Đối với Phan Văn L khai nhận: Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 26 tháng
5 năm 2022, L trộm cắp một chiếc xe đạp màu trắng tại khu vực Cây xăng số C1, thuộc tổ dân phố P, phường C, thành phố C; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C chưa xác định được bị hại, đã ra thông báo truy tìm nên tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.
Về vật chứng vụ án: Xe mô tô 79K9-7455 đã trả lại cho chủ sở hữu Đoàn
Thị S1; Xe mô tô 79U2-6355 đã trả lại cho chủ sở hữu Phạm Ảnh .
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Đoàn Thị S1, Nguyễn Thị A1, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Ả đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường thiệt hại, nên không đề nghị xem xét.
Tại phiên tòa, bị cáo Phan Văn L thừa nhận hành vi phạm tội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ
vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra truy tố xét xử; Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ và thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
Tại phiên tòa vắng mặt bị hại và người làm chứng nhưng việc vắng mặt
của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên quyết định xét xử vắng mặt.
Trong hồ sơ và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi
phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đủ căn cứ để kết luận: Vào ngày 26 và 28 tháng 5 năm 2021, trên địa bản thành phố C; Phan Văn L trộm cắp xe mô tô 79K9-7455 của bà Đoàn Thị S1 trị giá 5.400.000 đồng và trộm cắp xe mô tô 79U2-6355 của bà Nguyễn Thị A1, trị giá 6.300.000 đồng. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 11.700.000 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo Phan Văn L đủ cơ sở cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm nghiêm trọng
đến tài sản của người khác, làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có nhân thân xấu, phạm tội hai lần trở lên nên cần thiết phải xử lý về hình sự và áp dụng mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo.
Ngoài ra, cũng cần xem xét bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ
ăn năn hối cải; nên có thể áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để bị cáo thấy được sự khoan hồng của Nhà nước mà an tâm cải tạo tốt.
Về vật chứng vụ án: đã trả lại cho chủ sở hữu nên không xét.
Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan không có yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điểm g khoản 1 Điều 52
của Bộ luật Hình sự năm 2015;
- Điều 260 và 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Xử phạt bị cáo Phan Văn L 1 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn phạt
tù được tính kể từ ngày 30 tháng 5 năm 2022.
3. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí
hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa. - VKSND tỉnh Khánh Hòa. - Sở tư pháp tỉnh Khánh Hòa - VKSND TP. Cam Ranh. - Chi cục THADS TP. Cam Ranh. - Công an TP. Cam Ranh. - Bị cáo. - Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hiếu |