vanban.org

Bản án 86/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 18/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Hồ Quốc D, Nguyễn Hoàng A phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Hồ Quốc D 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 19/7/2022. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng A 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 19/7/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Hồ Quốc D, Nguyễn Hoàng A phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂ DÂn
THỊ XÃ HÒA THÀNH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2022/HSST
Ngày: 18-11-2022

NHA DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHA DA THỊ XÃ HÒA THÀNH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Q.

Các Hội thẩm nhA dA:

1. Ông Trần Văn T.

2. Bà Võ Thị T.

Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Sử Ngọc Q - Thư ký Tòa án nhA dA thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhA dA thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn T - Kiểm sát viên.

Ngày 18/11/2022, tại trụ sở Tòa án nhA dA thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 78/2022/HSST ngày 06 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Hồ Quốc D (Tên gọi khác: không có), sinh năm 1999; tại Tây Ninh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: nhà số 138/3, tổ 1, khu phố Long T, phường Long Thành T, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú hiện nay: Tổ 01, ấp Trường T, xã Trường H, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ văn hóa: 5/12; quốc tịch: Việt Nam; dA tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; con ông: Hồ Thanh K, sinh năm 1974 và bà: Trần Thị Thủy T, sinh năm 1975; vợ, con: không có.

Tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2020/HSST ngày 29/4/2020 của Tòa án nhA dA thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh xử phạt bị cáo 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo đã chấp hành xong án phạt tù ngày 24/8/2020.

Tiền sự: không có.

NhA thA:

1. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2016/HSST ngày 07/7/2016 của Tòa án nhA dA thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh xử phạt bị cáo 21 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

2. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2016/HSST ngày 08/9/2016 của Tòa án nhA dA thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh xử phạt bị cáo 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo còn phải chấp hành bản án số 39/2016/HSST ngày 07/7/2016 phạt 21 tháng tù, tổng hợp hình phạt bị cáo phải chấp hành 36 tháng tù (bị cáo đã được xóa án tích do khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi).

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/7/2022, tạm giam ngày 21/7/2022 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Hoàng A (Tên gọi khác: không có), sinh năm 1997; tại Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: không xác định; nơi cư trú hiện nay: Tổ 30, ấp Trường H, xã Trường T, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dA tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; con ông: Nguyễn Hoàng V, sinh năm 1957 và bà: Hồ Thị Mộng H, sinh năm 1976; vợ, con: không có.

Tiền án: không có.

Tiền sự: không có.

NhA thA: Tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 14/QĐ-TA ngày 27/02/2020 của Tòa án nhA dA thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (Mười lăm) tháng. Đến ngày 30/3/2021 thì Nguyễn Hoàng A chấp hành xong.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/7/2022, tạm giam ngày 21/7/2022 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

1. Anh Ngô Huỳnh Đ, sinh năm 1992 (có mặt).

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp Long H, xã Trường T, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

Nơi cư trú hiện nay: Ấp Trường A, xã Trường T, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

2. Anh Ngô Huỳnh K, sinh năm 1988 (vắng mặt).

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp Long H, xã Trường T, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

Nơi cư trú hiện nay: Ấp Trường A, xã Trường T, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1983 (vắng mặt).

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu p, phường Long H, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

Nơi cư trú hiện nay: Số 144, đường Ngô Quyền, ấp Long H, xã Trường T, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 10/7/2022, tại nhà của anh Nguyễn Trí G sau khi uống bia, Hồ Quốc D rủ Nguyễn Hoàng A đi kiếm tài sản trộm cắp, A đồng ý. A mượn xe mô tô biển số 70H8-6746 của anh G nói là đi mua thức ăn, nên anh G cho mượn. Sau khi mượn được xe, A điều khiển chở D đi trên các tuyến đường ở khu vực Hốc Trâm, đoạn thuộc xã Trường Tây, thị xã Hoà Thành tìm kiếm tài sản. Khi đi ngang nhà anh Ngô Huỳnh Khoẻ thì phát hiện nhà anh K đang dựng rạp đám cưới, không khoá cửa nhà, không có người trông coi. Lúc này, D kêu A dừng lại đứng ngoài cảnh giới, còn D trèo qua hàng rào, vào nhà lấy trộm 01 ví da, màu nâu đen, 01 điện thoại di động hiệu Samsung A20S, màu xanh có gắn sim số 0916605321 của anh K và 01 điện thoại di động hiệu Samsung A71, màu đen có gắn sim số 0972253042 của anh Ngô Huỳnh Đ (là em ruột và ngụ cùng địa chỉ với anh K). Sau khi lấy được tài sản, D và A điều khiển xe mô tô về nhà anh G.

Tại đây, D kiểm tra ví da thì bên trong có 600.000 đồng, một số giấy tờ tuỳ thA nên chỉ lấy tiền và ví da, còn giấy tờ thì ném bỏ phía sau nhà anh G. Số tiền trộm được, D và A đã mua ma tuý sử dụng và tiêu xài cá nhA hết. Tiếp đó, D thử mở mật khẩu màn hình theo hình chữ “Z” thì đăng nhập được cả hai điện thoại trộm. Khi đăng nhập vào điện thoại Samsung A71 của anh Đ thì D phát hiện ứng dụng của NgA hàng Vietcombank có lưu sẵn tên tài khoản và mật khẩu. Sau đó, D đăng nhập và chuyển số tiền 7.800.000 đồng từ tài khoản 0701000460338 của anh Đ đến số tài khoản 1018589771 mở tại NgA hàng Vietcombank do Trần Trí H, sinh năm 1999 ngụ phường 15, quận TA Bình, Thành phố Hồ Chí Minh làm chủ mua 9.176.000 điểm để chơi game trên ứng dụng Sumvip. Sau đó, D chuyển vào tài khoản game của A được 03 lần, tổng cộng là 2.500.000 điểm và chơi thua hết. D chơi thua hết 600.000 điểm, còn lại 6.076.000 điểm, D bán cho tài khoản game có tên là “maithuy98” (không rõ họ tên, địa chỉ) được 4.800.000 đồng. Số tiền này, D cùng với A mua ma tuý sử dụng và tiêu xài hết.

Sáng ngày 10/7/2022, D một mình đem điện thoại hiệu Samsung A20S đến tiệm điện thoại “LA CHANH” do chị Nguyễn Thị Thanh T làm chủ để cầm được số tiền 1.200.000 đồng. D sử dụng 700.000 đồng để mua ma tuý sử dụng, tiêu xài cá nhA, còn lại 500.000 đồng, D nạp vào tài khoản game của A và chơi thua hết.

Đến sáng ngày 11/7/2022, D chở A đem theo điện thoại hiệu Samsung A71 tiếp tục đến tiệm điện thoại của chị Nguyễn Thị Thanh T cầm được 1.500.000 đồng. Số tiền này, A nạp vào tài khoản game của A và D mỗi người 250.000 đồng, còn lại 1.000.000 đồng tiêu xài cá nhA hết.

Ngày 17/7/2022, anh Ngô Huỳnh Đ phát hiện mất tiền trong tài khoản ngA hàng Vietcombank nên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Hoà Thành để trình báo sự việc. Quá trình kiểm tra, xác minh, ngày 19/7/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra đã phát hiện và ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Hồ Quốc D và Nguyễn Hoàng A, thu giữ 02 điện thoại di động, 01 cái ví da màu nâu, còn các giấy tờ tuỳ thA không thu giữ được.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 36/KLĐG-TTHS ngày 18 tháng 7 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Hòa Thành kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A71 có giá trị 5.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A20S có giá trị 1.750.000 đồng; 01 ví da, màu nâu đen, có chữ MADE IN U.S.A không có giá trị để định giá.

* Trách nhiệm dA sự: Anh Ngô Huỳnh Đ yêu cầu các bị cáo bồi thường 7.800.000 đồng; anh Ngô Huỳnh K yêu cầu bồi thường 600.000 đồng, chị Nguyễn Thị Thanh T đã nhận lại số tiền 2.700.000 đồng nên không yêu cầu gì thêm. Hiện các bị cáo chưa bồi thường cho anh Đ và anh K.

* Qua xác minh, các bị cáo không có tài sản nên không tiến hành kê biên.

* Đối với hành vi đánh bạc của Hồ Quốc D và Nguyễn Hoàng A: số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng và các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc nên không xem xét để xử lý hình sự.

* Đối với Nguyễn Thị Thanh T: không biết tài sản do các bị cáo phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Hoà Thành không xử lý là có căn cứ.

* Đối với Nguyễn Trí G (Mít): không biết các bị cáo sử dụng xe mô tô đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Hoà Thành không xử lý là có căn cứ.

* Đối với người tên Trần Trí H và “maithuy98”: hiện chưa xác định được, khi nào làm rõ xử lý sau.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, gia đình của bị cáo D đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho chị T. Nguyễn Hoàng A phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hồ Quốc D đã bị kết án, chưa được xoá án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm. Trong vụ án này, các bị cáo đồng phạm giản đơn.

Bản Cáo trạng số: 75/CT-VKSHT ngày 05 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhA dA thị xã Hòa Thành đã truy tố các bị cáo Hồ Quốc D và Nguyễn Hoàng A về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhA dA thị xã Hòa Thành giữ quyền công tố, trong phần tranh luận đã giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Hồ Quốc D và Nguyễn Hoàng A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

* Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Hồ Quốc D từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù.

* Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng A từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù.

* Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 585 và Điều 589 của Bộ luật DA sự: Xử lý vật chứng và bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Hồ Quốc D và Nguyễn Hòang A trình bày lời nói sau cùng: Các bị cáo xin lỗi bị hại, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo được sớm trở về với gia đình và hòa nhập cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Hòa Thành, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhA dA thị xã Hòa Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng: bị hại là anh K; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với anh K, chị T là đúng với quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi của các bị cáo thể hiện: Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu mà cơ quan điều tra đã thu thập được, cũng như lời khai của các bị cáo tại cơ quan cảnh sát điều tra có cơ sở xác định:

Vào lúc 00 giờ 30 phút ngày 10/7/2022, tại ấp Trường An, xã Trường Tây, thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh, Hồ Quốc D và Nguyễn Hoàng A đã lén lút trộm cắp tài sản của anh Ngô Huỳnh Đ và anh Ngô Huỳnh K có tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 15.150.000 đồng.

Hành vi nêu trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dA được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự xã hội ở địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhA dA. Các bị cáo biết được hành vi lén lút để chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng với bản chất lười lao độg, thích có tiền tiêu xài cá nhA, xem thường pháp luật đã dẫn các bị cáo vào con đường phạm tội. Do đó, cần có một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.

Khi quyết định hình phạt có xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo A phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Gia đình của bị cáo D đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho chị Trúc nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo D còn một tiền án chưa được xóa án tích nhưng vẫn tiếp tục phạm tội nên lần phạm tội này là tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Trong vụ án này, các bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội không có sự câu kết, bàn bạc hay phA công nên đây là đồng phạm giản đơn. Vai trò của các bị cáo là khác nhau nên mỗi bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự khác nhau. Bị cáo D còn một tiền án chưa được xóa án tích, là người khởi xướng, rủ rê bị cáo A cùng thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu mức án cao hơn mức án của bị cáo A.

Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 585 và Điều 589 của Bộ luật DA sự.

Chị T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu các bị cáo bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Anh Đ yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 7.800.000 đồng và anh K yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 600.000 đồng. Tại phiên tòa, các bị cáo đồng ý bồi thường cho anh Đ số tiền 7.800.000 đồng và đồng ý bồi thường cho anh K số tiền 600.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo do không có tài sản.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy J8, màu tím là tài sản thu giữ của bị cáo A dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu nộp ngA sách Nhà nước.

Đối với người tên Trần Trí H và “maithuy98” hiện chưa xác định được, khi nào làm rõ xử lý sau.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dA sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Hồ Quốc D, Nguyễn Hoàng A phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Hồ Quốc D 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 19/7/2022.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng A 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 19/7/2022.

2. Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 585 và Điều 589 của Bộ luật DA sự.

2.1. Chị Nguyễn Thị Thanh T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu các bị cáo bồi thường thêm.

2.2. Buộc các bị cáo Hồ Quốc D và Nguyễn Hoàng A có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho anh Ngô Huỳnh Đ số tiền 7.800.000 (Bảy triệu tám trăm nghìn) đồng và bồi thường cho anh Ngô Huỳnh K số tiền 600.000 (Sáu trăm nghìn) đồng (Trong đó bị cáo D bồi thường số tiền 4.200.000 đồng và bị cáo A bồi thường số tiền 4.200.000 đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật DA sự.

Miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo do không có tài sản.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu nộp ngA sách Nhà nước của bị cáo Nguyễn Hoàng A 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy J8, màu tím, số kiểu máy: SM-J810Y/DS, số seri: R58K73PN2ER, số imei 1: 359051093147957, số imei 2: 359052093147955, màn hình điện thoại bị nứt, bên trong gắn sim Viettel có số seri 8984048000325998729 và sim Viettel số seri 8984048000018396479, đã qua sử dụng.

(Tài sản nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dA sự thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh đang tạm giữ).

4. Về án phí: Các bị cáo D và A mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo D và A mỗi bị cáo còn phải chịu 210.000 (Hai trăm mười nghìn) đồng án phí dA sự sơ thẩm.

Án hình sự sơ thẩm xử công khai, báo cho bị cáo, bị hại biết được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhA dA tỉnh Tây Ninh trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng đối với những người vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dA sự thì người được thi hành án dA sự, người phải thi hành án dA sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dA sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dA sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ