vanban.org

Bản án 86/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. PLeiku, tỉnh Gia Lai Tuyên án 07/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng D phạm tội “ Cố ý làm hư hỏng tài sản”

Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng D 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18 tháng 8 năm 2021. Tổng Công ty cổ phần bảo hiểm BĐ thông qua Công ty Bảo hiểm BĐ Gia Lai được nhận số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng theo Biên lai th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Hoàng D "Cố ý làm hư hỏng tài sản" - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng D phạm tội “ Cố ý làm hư hỏng tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ P
TỈNH GIA LAI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2022/HS-ST
Ngày 07/7/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Thúy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bạch Quảng

2. Bà Nguyễn Thị Bích Thủy

- Thư ký phiên tòa: Ông Thủy S Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Đào Anh Tuấn - Kiểm sát viên

Trong ngày 07 tháng 7 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 63/2022/TLST - HS ngày 28 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2022/QĐXXST - HS ngày 31 tháng 5 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 53/2022/HSST – QĐ ngày 24 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:

PHẠM HOÀNG D (tên gọi khác: D ngọng), sinh năm 1991 tại Gia Lai; nơi cư trú: Tổ 3, phường PĐ, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn C, sinh năm 1955 và bà Nguyễn Thị Tường V, sinh năm 1959; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Mỹ T, sinh năm 1993 (hiện đã ly hôn) và 01 con, sinh năm 2015; nhân thân xấu; tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 08 tháng 5 năm 2021 Công an thành phố P phạt tiền tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau tại ngã tư PKK– HTK, phường YĐ, thành phố P, tỉnh Gia Lai ngày 22 tháng 12 năm 2020

Ngày 17 tháng 8 năm 2021 thực hiện hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18 tháng 8 năm 2021 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P. Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư V Quang K; địa chỉ: Công ty Luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên VK – Số 10 PĐ, phường PĐ, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

Bị hại: Anh Nguyễn Trường S, sinh năm 1985; địa chỉ: 30/23/240 NCT, phường CL, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

Nguyên đơn dân sự: Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm BĐ (PTI)

Địa chỉ trụ sở chính: Tầng 8, tòa nhà số 4A LH, quận NĐ, Thành phố Hà Nội

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Nam K – Trưởng phòng giám định bồi thường Công ty bảo hiểm BĐ Gia Lai

Địa chỉ: 47 ND, phường TS, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Hồ Thanh T, sinh năm 1993; địa chỉ:Hẻm 29 Lê Quý Đôn, tổ 4, phường Ia Kring, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

2. Anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1995; địa chỉ: 116 Phan Đình Giót, tổ 6, phường Hoa Lư, thành phố P, tỉnh Gia Lai.Vắng mặt

3. Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1990; địa chỉ: 139 Đinh Tiên Hoàng, tổ 02, phường YĐ, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

4. Anh Nguyễn Pa R, sinh năm 1993; địa chỉ: Tổ 4, phường Chi Lăng, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

5. Anh Đoàn Anh T, sinh năm 1994; địa chỉ: Tổ 13, phường YĐ, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

6. Chị Đỗ Thị Nhung H, sinh năm 1997; địa chỉ: Hẻm 306 Trường Chinh, phường Trà Bá, phường PĐ, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

7. Ông Phạm Văn C, sinh năm 1955 va bà Nguyễn Thị Tường V, sinh năm 1959; địa chỉ: 57/42 NVX, tổ 01, phường HP, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 17 tháng 01 năm 2021, Phạm Hoàng D mua 01 bộ bàn ghế gỗ tại cửa hàng HL, ở 376 đường TC, thành phố P, tỉnh Gia Lai, do anh Dương Quang N làm chủ, với giá 13.000.000 (mười ba triệu) đồng. D đã trả 9.000.000 (chín triệu) đồng, còn nợ lại 4.000.000 (bốn triệu) đồng. Sau đó, anh N nhờ Hồ Thanh T (là người làm thuê cho cửa hàng HL) gặp D đòi số tiền nợ trên. Khoảng đầu tháng 8 năm 2021, Thanh T gặp D tại đường LD, thành phố P, tỉnh Gia Lai để đòi nợ nhưng D không trả, hai bên đã xảy ra mâu thuẫn cãi nhau. Khoảng 14 giờ ngày 17 tháng 8 năm 2021, Nguyễn Ngọc T điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Santafe, biển số 81A-251.28 thuộc sở hữu của Nguyễn Trường S, chở Nguyễn Trường S ngồi ghế phụ phía trước, Nguyễn Văn V, Nguyễn Pa R, Đoàn Anh T, Hồ Thanh T và 01 đối tượng tên Bi Đức (hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch) ngồi 02 hàng ghế phía sau, lưu thông trên đường NTT, hướng ngã ba HL đi ngã ba PĐ để về nhà S tại đường NCT, phường CL, thành phố P. Khi đi ngang qua quán cà phê của Phạm Hoàng D tại số 175 đường NTT, phường PĐ, thành phố P, tỉnh Gia Lai, Thanh T thấy D đang đứng trên thùng xe ô tô bán tải nhãn hiệu Ford Ranger, biển số 81C-185.97, đậu trước quán, nên nói cả nhóm quay lại quán của D để đòi nợ thì tất cả đồng ý. Nguyễn Ngọc T điều khiển xe ô tô biển số 81A-251.28 quay lại dừng xe trước nhà số 175 đường NTT, cách sau đuôi xe ô tô của D khoảng 05m. Thanh T và V xuống xe gặp D nói chuyện nợ nần, thì hai bên xảy ra cãi nhau. D đứng trên thùng xe rút dao từ trong người ra đe dọa (theo lời khai của nhóm S). Thấy vậy, V đi đến thùng xe ô tô bán tải của D lấy 01 cây kiếm tự chế bằng kim loại, dài 01m, cán dài 53cm, đường kính 2,5cm, lưỡi kiếm rộng 2,9cm, bọc trong ống nước bằng nhựa, cầm quơ qua quơ lại thì D bỏ chạy vào trong nhà. V và Thanh T đuổi theo D thì V bị vấp ngã làm rơi cây kiếm xuống nền nhà. Thấy vậy, Thanh T nhặt lấy kiếm và tiếp tục đuổi theo D, D chạy vào trong phòng ngủ lấy ở giường 01 con dao lê dài 35cm, lưỡi kim loại nhọn, dài 24cm, có phần cán ốp gỗ dài 11cm, lưỡi dao có bản rộng 03cm, cầm giơ lên; Thanh T cầm cây kiếm đập vào tường làm ống nước bị vỡ rồi cầm kiếm chém vào tủ nhựa; V cầm tô, đĩa sứ ném về phía D làm bể tô và đĩa sứ. Sau đó, Thanh T và V đi ra ngoài, Thanh T vứt lại cây kiếm tại nhà số 175 đường NTT rồi lên xe ô tô biển số 81A-251.28, Ngọc T điều khiển chở cả nhóm bỏ đi, lưu thông trên đường NTT, hướng ngã ba PĐ đi ngã ba Hoa Lư.

Do bực tức bị nhóm của Hồ Thanh T đuổi đánh, Phạm Hoàng D cầm theo 01 con dao lê dài 35cm chạy ra ngoài, lên xe ô tô bán tải biển số 81C-185.97 điều khiển đuổi theo xe ô tô biển số 81A-251.28 của Ngọc T. Khi đến trước số nhà 151 đường NTT, phường PĐ, thành phố P, tỉnh Gia Lai, D điều khiển xe ô tô biển số 81C-185.97 vượt lên phía bên trái xe ô tô biển số 81A-251.28, đồng thời, đánh lái sang phải, tông vào phía bên tài xe ô tô biển số 81A-251.28, rồi điều khiển xe ô tô biển số 81C-185.97 vượt lên trước cách đầu xe ô tô biển số 81A-251.28 khoảng 02m, cài số lùi, rồi điều khiển xe tông vào đầu xe ô tô biển số 81A-251.28. Thấy vậy, Nguyễn Trường S lấy từ trong hộc xe ô tô biển số 81A-251.28 ra 01 khẩu súng bằng kim loại màu đen, dài 16cm, bên trong có hộp tiếp đạn, rồi mở cửa xuống xe, cầm súng bắn 01 phát chỉ thiên. Những người còn lại trên xe ô tô biển số 81A-251.28 cũng lần lượt xuống xe. Sau khi S bắn 01 phát súng chỉ thiên, D tiếp tục điều khiển xe ô tô biển số 81C-185.97 tiến lên phía trước rồi lùi xe lại tông mạnh vào đầu xe ô tô biển số 81A-251.28 lần thứ hai. Trong lúc xe ô tô biển số 81A-251.28 đang di chuyển, thì S đứng cách xe ô tô biển số 81C-185.97 khoảng 04 mét, cầm súng bắn 01 phát trúng vào kính chắn gió bên phụ phía trước của xe ô tô biển số 81C-185.97 làm thủng kính. Sau đó, D điều khiển xe ô tô biển số 81C-185.97 đến Công an phường PĐ, thành phố P trình báo vụ việc. Trong quá trình di chuyển, D điều khiển xe ô tô biển số 81A-251.28 gây va chạm với một số phương tiện khác (không xác định xe mô tô và người điều khiển) đang lưu thông trên đường NTT. Đến 17 giờ cùng ngày, S đến Công an thành phố P đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi trên.

Sau khi nhận được tin báo, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường tại số 175 đường NTT, phường PĐ, thành phố P, tỉnh Gia Lai, thu giữ 01 kiếm bằng kim loại dài 01m, cán dài 53cm, đường kính 2,5cm, lưỡi kiếm rộng 2,9cm. Khám nghiệm hiện trường tại trước số nhà 151 đường NTT, phường PĐ, thành phố P, tỉnh Gia Lai, thu giữ 01 xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger màu đỏ cam, biển số 81C-185.97; 01 xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Santafe màu đen, biển số 81A-251.28 và 02 vỏ đạn bằng kim loại màu vàng dài 2cm, đường kính 0,9cm. Ngoài ra, thu giữ của S 01 khẩu súng bằng kim loại màu đen, dài 16cm, bên trong có hộp tiếp đạn.

Tại Kết luận định giá tài sản số 135 ngày 18 ngày 8 năm 2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P, kết luận: “ Nắp capo xe móp méo, biến dạng bị đẩy lùi từ trước về sau diện (121x26)cm, lún sâu 27cm; đã qua sử dụng; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 14.025.000 đồng. Mặt nạ, ga lăng, cản trước, nắp che két nước bị lôi khỏi vị trí cố định, ốp viền Crom phía trước, cảm biết phía trước; đã qua sử dụng có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 33.330.000 đồng. Đèn pha phía trước bên trái xe bị vỡ hoàn toàn trong diện (47x 50)cm; đã qua sử dụng; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 33.330.000 đồng. Tài vè phía trước bị rách móp, biến dạng; đã qua sử dụng; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 5.235.000 đồng. Ốp biển số phía trước bị vỡ rơi khỏi vị trí ban đầu; đã qua sử dụng; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 517.000 đồng. Ốp tài vè trước trái biến dạng; đã qua sử dụng; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 890.000 đồng. Ốp tài vè trước phải móp méo, biến dạng diện (15x17)cm, đã qua sử dụng; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 890.000 đồng. Ốp tam giác tại cửa trước bên phải bị rơi mất; đã qua sử dụng; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 588.000 đồng. Nẹp chân kính bên trái bị cong, biến dạng; đã qua sử dụng; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 979.000 đồng. Khóa nắp capo bị gãy vỡ; đã qua sử dụng; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 880.000 đồng. Tấm hướng gió két nước phần trên bị vỡ, gãy toàn bộ tấm hướng gió; đã qua sử dụng; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 1.529.000 đồng. Khung xương đầu xe bị gãy vỡ; đã qua sử dụng; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 7.480.000 đồng. Đệm giảm chấn bằng xốp bị bể; đã qua sử dụng; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 1.450.000 đồng. Giàn nóng, két nước móp méo biến dạng, hết nước làm mát; đã qua sử dụng; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 18.720.000 đồng. Cổ hút gió động cơ bị bể; đã qua sử dụng; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 621.500 đồng. Két làm mát Turbo bị móp, cụp, lồng quạt giải nhiệt bị bể vỡ; bình nước rửa kính bị vỡ; đã qua sử dụng; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 22.907.500 đồng. Ốp trên tai xe trái, phải bị vỡ; đã qua sử dụng; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 434.000 đồng. Cửa xe phía trước bên trái (bên tài) bị móp méo biến dạng diện (90x65)cm, móp vào trong 05cm chỗ sâu nhất và Crom ốp cửa bên trái bị vỡ diện (25x5)cm; đã qua sử dụng; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 3.020.000 đồng. Ốp cửa phía trước bên trái bị trầy xước diện (15x5)cm; đã qua sử dụng; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 3.168.000 đồng. Móp cửa sau bên trái diện (15x20)cm; đã qua sử dụng; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 1.485.000 đồng. Ốp Crom cửa sau bên trái (18x5)cm; đã qua sử dụng; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 2.130.000 đồng. Bệ trước bên trái bị cong vênh, móp; đã qua sử dụng; chưa có giá. Tay nắm cửa trước trái bị trầy (10x0,2)cm; đã qua sử dụng; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 1.000.000 đồng. Tay vè trước phải móp méo biến dạng; đã qua sử dụng; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 5.235.000 đồng. Ron điện cảm trước rách; đã qua sử dụng; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 407.000 đồng. Bộ viền Crom trên cản trước bể xước; đã qua sử dụng; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 2.634.500 đồng. Lưới gió cản trước bị vỡ; đã qua sử dụng; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 1.080.000 đồng. Ốp đèn cản trước bị vỡ; đã qua sử dụng; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 4.026.000 đồng. Nẹp cản trước với ốp đèn trái-phải bị vỡ; đã qua sử dụng; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 4.026.000 đồng. Đứt dây điện cảm biến trước; đã qua sử dụng; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 4.048.000 đồng. Tai bắt cản trước phải bị vỡ, rơi mất; đã qua sử dụng; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 442.000 đồng. Bể tại bắt cản trên vè trái, phải; đã qua sử dụng; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 363.000 đồng. Tấm giảm nhiệt capo bị vỡ; đã qua sử dụng; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 1.441.000 đồng. Cong hai bản lề capo; đã qua sử dụng; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 1.200.000 đồng. Sắt xi đầu xe cong ra phía sau xe; đã qua sử dụng; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 800.000 đồng. Hai bản lề cửa trước trái bị cong; đã qua sử dụng; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 300.000 đồng. Cục chống rung trước đầu xe cong; đã qua sử dụng; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 1.560.000 đồng. Bầu lọc gió động cơ bị vỡ; đã qua sử dụng; chưa có giá. Nắp che bình nước phụ bị mất; đã qua sử dụng; chưa có giá. Crom, ống ga, điều hòa cong móp; đã qua sử dụng; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 13.134.000 đồng. Bát bắt két nước hai bên trái phải cong; đã qua sử dụng; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 6.418.000 đồng. Dây điện công tắt capo bể, mất; đã qua sử dụng; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 390.500 đồng”

Tại Kết luận định giá tài sản số 189 ngày 08 tháng 12 năm 2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P, kết luận: “Cửa thông gió ba đờ sóc trước trái; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 39.000 đồng. Cửa thông gió ba đờ sóc trước phải; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 39.000 đồng. Giá bắt cảm biến va chạm; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 22.000 đồng. Giá bắt cảm biến va chạm; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 22.000 đồng. Xương ba đờ sóc trước; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 4.540.000 đồng. Thanh chống capo; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 435.000 đồng. Nắp bình nước phụ; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 200.000 đồng. Ống dẫn; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 340.000 đồng. Tai ba đờ sóc (trái và phải); có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 330.000 đồng. Nắp che móc kéo ba đờ sóc trước; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 52.000 đồng. Cửa thông gió ba đờ sóc trước trái; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 280.000 đồng. Cửa thông gió ba đờ sóc trước phải; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 280.000 đồng. Ống gió nạp vào động cơ; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 530.000 đồng. Bầu lọc gió; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 1.440.000 đồng. Cáp mở nắp chốt capo; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 150.000 đồng. Panen cửa trước trái; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 12.350.000 đồng. Bản lề trên cửa trước trái; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 215.000 đồng. Bản lề trên cửa trước phải; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 215.000 đồng. Panen cửa sau trái; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 13.450.000 đồng. Bản lề trên cửa sau trái; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 275.000 đồng. Bản lề trên cửa trước trái; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 195.000 đồng. Tay mở cửa ngoài trái; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 1.680.000 đồng. Chắn bùn bánh xe trước phải; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 670.000 đồng. Ống dẫn hướng thước thăm dầu; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 340.000 đồng. Nắp che động cơ; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 2.080.000 đồng. Bệ trước tráng gương San 2019; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 4.546.000 đồng. Vít nhựa kẹp tự căng; có giá trị thời điểm ngày 17/8/2021 là 5.000 đồng”

Tổng trị giá tài sản bị hư hỏng là 283.420.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số 78/CT – VKS ngày 27 tháng 4 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P truy tố bị cáo Phạm Hoàng D về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 3 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Hoàng D không đồng ý với nhiều nội dung của Bản cáo trạng số 78/CT – VKS ngày 27 tháng 4 năm 2022 về diễn biến sự việc nhưng thừa nhận hành vi phạm tội và đồng ý với nội dung truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P. Bị cáo và bị hại không có ý kiến khiếu nại gì đối với các Kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị xét xử bị cáo Phạm Hoàng D về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội tự nguyện nộp tiền khắc phục một phần hậu quả”,“Người phạm tội thành khẩn khai báo”, “đầu thú”, “gia đình có hoàn cảnh khó khăn” được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 với mức hình phạt từ 04 (bốn) năm đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa thống nhất với Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P về tội danh “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 3 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; thống nhất áp dụng tất cả các tình tiết giảm nhẹ như Đại điện Viện kiểm sát đã đề nghị. Bên cạnh đó, người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra” được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 với các luận điểm: Từ việc nhóm của bị hại Nguyễn Trường S đến nhà của bị cáo Phạm Hoàng D đòi nợ, đập phá đồ đạc, dùng hung khí làm bị thương đối với bị cáo D dẫn đến bị cáo hoảng sợ, kích động mà thực hiện hành vi tông nhiều lần vào xe của bị hại S gây hư hỏng với tổng giá trị qua định giá là 283.420.000 đồng. Bản thân bị hại Nguyễn Trường S đã bị xét xử về hành vi phạm tội gây ra đối với bị cáo Phạm Hoàng D đồng thời nhìn từ góc độ xã hội hành vi trái pháp luật do nhóm của bị hại S đã gây ra buộc bị cáo D phải có phản ứng dưới hình thức này hoặc hình thức khác nên cần thiết Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ này để nhìn nhận thấu đáo toàn bộ sự việc đã xảy ra.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P giữ nguyên quan điểm, không đồng thuận áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra” được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 với các luận điểm: Hành vi trái pháp luật do Hồ Thanh T và Nguyễn Văn V thực hiện đã chấm dứt vì T và V đã lên xe của bị hại Nguyễn Trường S bỏ đi nhưng bị cáo vẫn đuổi theo tông nhiều lần vào xe của bị hại S theo nội dung Biên bản lấy lời khai của chị Đỗ Thị Nhung H ngày 17 tháng 8 năm 2021. Hành vi của bị cáo Nguyễn Trường S bị xét xử về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” diễn ra sau hành vi của bị cáo Phạm Hoàng D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với hành vi của Nguyễn Trường S tàng trữ và sử dụng súng là công cụ hỗ trợ bắn làm hư hỏng xe ô tô bán tải nhãn hiệu Ford Ranger, biển số 81C – 185.97 của Phạm Hoàng D và hành vi đuổi đánh, đập phá tài sản của Hồ Thanh T và Nguyễn Văn V, Cơ quan Cảnh sát Công an thành phố P tách ra xử lý trong vụ án khác.

Giai đoạn điều tra, bị cáo Phạm Hoàng D yêu cầu định giá lại đối với toàn bộ thiệt hại của xe ô tô biển số 81A – 251.28 của Nguyễn Trường S tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo không yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét về việc định giá lại đối với toàn bộ thiệt hại của xe ô tô biển số 81A – 251.28. Vì vậy, Kết luận định giá tài sản số 189 ngày 08 tháng 12 năm 2021 và Kết luận định giá tài sản số 189 ngày 08 tháng 12 năm 2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P vẫn giữ nguyên giá trị pháp lý

Về hành vi của bị cáo: Vào khoảng 14 giờ ngày 17 tháng 8 năm 2021, tại trước số nhà 151 đường NTT, phường PĐ, thành phố P, tỉnh Gia Lai, do bực tức nhóm của Nguyễn Trường S đến nhà của bị cáo tại 175 NTT, phường PĐ, thành phố P, tỉnh Gia Lai đòi nợ, đuổi đánh, đập phá tài sản nên Phạm Hoàng D điều khiển xe ô tô bán tải nhãn hiệu Ford Ranger, biển số 81C-185.97 tông nhiều lần vào xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Santafe, biển số 81A – 251.28 của Nguyễn Trường S, làm hư hỏng một số bộ phận gây thiệt hại trị giá qua định giá là 283.420.000 (hai trăm tám mươi ba triệu bốn trăm hai mươi nghìn) đồng.

Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:

“1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.......

3. Phạm tội gây thiệt hại cho tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm….”

Như vậy hành vi của bị cáo Phạm Hoàng D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 3 Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân thành phố P đã truy tố.

Hành vi điều khiển xe ô tô tông nhiều lần vào ô tô của người khác làm hư hỏng một phần tài sản do Phạm Hoàng D thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp được Hiến pháp và pháp luật hình sự bảo vệ đồng thời gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo Phạm Hoàng D đã bị xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền do có hành vi đánh nhau nhưng bị cáo không lấy đây làm bài học mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội theo chiều hướng cao hơn về mặt pháp lý. Vì vậy cần thiết áp dụng hình phạt tù với mức hình phạt tương xứng tính chất, mức độ hành vi phạm tội nhằm cảnh tỉnh, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.

Tuy nhiên bị cáo Phạm Hoàng D có nhiều tình tiết giảm nhẹ như bị cáo phạm tội lần đầu, sau khi phạm tội đã đến Công an thành phố P đầu thú và thành khẩn khai báo về hành vi đã thực hiện, tác động gia đình bồi thường khắc phục một phần hậu quả do mình gây ra đồng thời gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Do bị cáo Phạm Hoàng D có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên Hội đồng xét xử cân nhắc áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.

Tại phiên tòa, bản thân bị cáo Phạm Hoàng D tự khai nhận khi xe biển số 81C-185.97 của bị cáo đi song song với xe ô tô biển số 81A – 251.28 của Nguyễn Trường S, bị cáo đã tông vào xe của bị hại S ở vị trí người ngồi lái để ép xe bị hại phải dừng lại rồi từ đó mới phát sinh các hành vi phạm tội tiếp theo của cả bị cáo D và bị hại S. Như vậy xét về hành vi phạm tội cố ý làm hư hỏng tài sản thì hành vi của Phạm Hoàng D thực hiện trước. Mặt khác tất cả các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đều chỉ thể hiện Hồ Thanh T và Nguyễn Văn V có hành vi đập phá, gây thương tích cho D mà không thể hiện có sự tham gia, chỉ đạo của bị hại Nguyễn Trường S; hành vi của Thanh T và V đã được xác định là không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Như vậy bản thân bị cáo bị kích động vì hành vi của người khác mà chưa chứng minh được là bị hại nên Hội đồng xét xử thống nhất không áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra” được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại Nguyễn Trường S có yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản với số tiền 290.000.000 (hai trăm chín mươi triệu) đồng.

Giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tổng Công ty cổ phần bảo hiểm BĐ (PTI) thông qua Công ty Bảo hiểm BĐ Gia Lai đã sửa chữa hoàn thiện các bộ phận bị hư hỏng của xe ô tô biển số 81A – 251.28 của Nguyễn Trường S với tổng chi phí là 263.007.459 (hai trăm sáu mươi ba triệu không trăm lẻ bảy nghìn bốn trăm năm mươi chín) đồng trong đó Tổng Công ty cổ phần bảo hiểm BĐ (PTI) thông qua Công ty Bảo hiểm BĐ Gia Lai thanh toán số tiền 249.357.086 (hai trăm bốn mươi chín triệu ba trăm năm mươi bảy nghìn không trăm tám mươi sáu) đồng; chủ xe là bị hại S thanh toán số tiền 500.000 (năm trăm nghìn) đồng; giảm garage liên kết là 13.150.373 (mười ba triệu một trăm năm mươi nghìn ba trăm bảy mươi ba) đồng.

Ngày 04 tháng 5 năm 2022 tại Giấy chuyển giao quyền yêu cầu bên thứ ba bồi hoàn kèm thông báo cho các bên liên quan được chứng thực tại Ủy ban nhân dân phường CL, bị hại S đã chuyển giao quyền yêu cầu bồi thường số tiền 249.357.086 (hai trăm bốn mươi chín triệu ba trăm năm mươi bảy nghìn không trăm tám mươi sáu) đồng cho Tổng Công ty cổ phần bảo hiểm BĐ (PTI)/Công ty Bảo hiểm BĐ Gia Lai. Riêng số tiền 500.000 đồng bị hại S không yêu cầu bị cáo D phải bồi thường cho bị hại.

Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của Tổng Công ty cổ phần bảo hiểm BĐ yêu cầu bị cáo Phạm Hoàng D phải bồi thường số tiền 249.357.086 (hai trăm bốn mươi chín triệu ba trăm năm mươi bảy nghìn không trăm tám mươi sáu) đồng.

Bị cáo Phạm Hoàng D đã tác động gia đình nộp số tiền 60.000.000 (sáu mươi triệu) đồng tại Chi cục thi hành án thành phố P theo Biên lai thu tiền số 0002573 ngày 11 tháng 5 năm 2022 và biên lai thu tiền số 0002458 ngày 05 tháng 7 năm 2022 để khắc phục một phần thiệt hại đối với tài sản của bị hại Nguyễn Trường S.

Do yêu cầu của Tổng Công ty cổ phần bảo hiểm BĐ là phù hợp quy định pháp luật nên số tiền 60.000.000 đồng này được trả cho Tổng Công ty cổ phần bảo hiểm BĐ thông qua Công ty Bảo hiểm BĐ Gia Lai. Bị cáo D tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 189.357.086 (một trăm tám mươi chín triệu ba trăm năm mươi bảy nghìn không trăm tám mươi sáu) đồng.

Bị hại Nguyễn Trường S không yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét vấn đề bồi thường dân sự do đó Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về xử lý vật chứng:

Đối với xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Santafe, biển số 81A-251.28 và xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger, biển số 81C-185.97, sau khi khám xét phương tiện và định giá tài sản, Cơ quan điều tra đã trả lại cho các chủ sở hữu là Nguyễn Trường S và bà Phạm Thị Tường V (theo ủy quyền của bị hại D). Do đó Hội đồng xét xử không xử lý đối với các phương tiện này.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phạm Hoàng D

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí về phần bồi thường dân sự theo quy định của pháp luật Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng D phạm tội “ Cố ý làm hư hỏng tài sản”

Áp dụng khoản 3 Điều 178, Điều 38, Điều 50, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng D 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18 tháng 8 năm 2021.

Áp dụng Điều 584, Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015

Tổng Công ty cổ phần bảo hiểm BĐ thông qua Công ty Bảo hiểm BĐ Gia Lai được nhận số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng theo Biên lai thu tiền số 0002573 ngày 11 tháng 5 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Tổng Công ty cổ phần bảo hiểm BĐ thông qua Công ty Bảo hiểm BĐ Gia Lai được nhận số tiền 40.000.000 (hai mươi triệu) đồng theo Biên lai thu tiền số 0002458 ngày 05 tháng 7 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Buộc bị cáo Phạm Hoàng D bồi thường cho Tổng Công ty cổ phần bảo hiểm BĐ thông qua Công ty Bảo hiểm BĐ Gia Lai số tiền 189.357.086 (một trăm tám mươi chín triệu ba trăm năm mươi bảy nghìn không trăm tám mươi sáu) đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Phạm Hoàng D phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 9.467.854 (chín triệu bốn trăm sáu mươi bảy nghìn tám trăm năm mươi tư) đồng án phí về bồi thường dân sự.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ