vanban.org

Bản án 86/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bến Tre, tỉnh Bến Tre Tuyên án 23/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt bị cáo Lê Văn Th 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ngày 21/7/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Th - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẾN TRE
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2022/HS-ST
Ngày: 23/9/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Trình

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trịnh Ngọc Hồng

2. Ông Huỳnh Văn Hùng

-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Vương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Trương Phạm Duy Tiên - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 64/2022/TLST-HS ngày 09/9/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2022, đối với bị cáo:

Lê Văn Th (Th Lép), sinh năm 1989 tại tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: số 98/34 đường K, khu phố B, phường A, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; trình độ văn hóa: 1/12; nghề nghiệp: làm thuê; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Bạch T, sinh năm 1968; bị cáo chưa có vợ con;

Nhân thân:

- Ngày 05/12/2007, bị Công an phường 2, thị xã Bến Tre (nay là phường An Hội, thành phố Bến Tre) ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 100.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

- Ngày 08/10/2008, bị Công an xã Phú Hưng, thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre) ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 100.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

- Ngày 05/02/2009, bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre) xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 02 năm 06 tháng tù (chấp hành xong bản án ngày 30/01/2011).

- Ngày 04/5/2012, bị Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ra quyết định đưa vào cơ sở giáo dục, thời hạn 24 tháng về hành vi “Đánh nhau, trộm cắp tài sản” (chấp hành xong ngày 05/7/2014).

- Ngày 06/7/2015, bị Công an phường 4, thành phố Bến Tre ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” (nộp phạt ngày 21/9/2015).

Tiền án:

- Ngày 20/5/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/6/2017).

- Ngày 23/3/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/12/2018).

- Ngày 17/7/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/01/2022)

Tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/7/2022 cho đến nay, có mặt.

- Bị hại: Huỳnh Ngọc Tr; sinh năm 1976; nơi cư trú: số 319A4, khu phố K, phường S, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Vắng mặt

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Liêu Duy Th, sinh năm 1982; nơi cư trú: số 572C3, khu phố B, phường K, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Vắng mặt

2. Nguyễn Thị Trúc Th, sinh năm 1987; nơi cư trú: số 147A14, khu phố M, phường T, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Vắng mặt

- Người làm chứng: Nguyễn Phước H, sinh năm 1987; nơi cư trú: số 270A, khu phố H, phường T, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23 giờ ngày 21/4/2022, trong lúc uống rượu cùng nhóm bạn tại tiệm sửa xe Nghĩa ở đường Nguyễn Huệ, phường Phú Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre, Lê Văn Th mượn xe đạp nhãn hiệu Martin, màu bạc của Liêu Duy Th (thường gọi: Ba G; SN: 1982; ĐKTT: Số 572C3, khu phố B, phường K, thành phố Bến Tre) để đi mua thẻ cào điện thoại. Khi đi ngang quán trà sữa M.HOUSE ở số 619B10, đường Ca Văn Th, khu phố S, phường K, thành phố Bến Tre, Th phát hiện xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại: FUTURE, màu đen-ghi, biển số 71B3 – 047.87 của chị Huỳnh Ngọc Tr (SN: 1976; ĐKTT: Số 319A4, khu phố B, phường S, thành phố Bến Tre) dựng trên vỉa hè gần quán trà sữa M.HOUSE không người trông coi nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Để thực hiện ý định, Th dựng xe đạp gần quán trà sữa M.HOUSE rồi đến ngồi trên bậc thềm gần xe mô tô của chị Tr để quan sát xung quanh. Sau khi quan sát thấy không có ai, Th liền tiếp cận rồi dùng lưỡi dao nhỏ trong bộ dụng cụ cắt móng tay đem theo sẵn bẻ khóa, lấy xe mô tô biển số 71B3 – 047.87 của chị Tr chạy đến tiệm sửa xe Ngh kêu Th đến quán trà sữa M.HOUSE lấy xe đạp về. Nghe Th nói vậy, Th mượn xe mô tô biển số 71B1-238.81 (xe của chị Nguyễn Thị Trúc Th) chở Nguyễn Phước H (tên thường gọi: Hòa M; SN: 1987; ĐKTT: Số 270A, khu phố H, phường T, thành phố Bến Tre) đến lấy xe đạp của Th về. Sau khi nói chuyện với Th, Th điều khiển xe mô tô vừa trộm được của chị Tr qua thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang bán cho một người thanh niên tên Thanh Mập (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) được 5.000.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết. Hiện tài sản không thu hồi được.

Vật chứng thu giữ:

- 01 áo khoát nhãn hiệu adidas, màu đỏ.

- 01 nón kết nhãn hiệu NIKE, màu đen.

- 01 quần Jeans màu xanh, trên lưng quần có chữ “JEANS COLLECTION”.

- 01 áo thun màu đen, trên ngực có chữ “PUMA”.

(do Lê Văn Th giao nộp)

- 01 đoạn camera ghi nhận hình ảnh Lê Văn Th có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của chị Huỳnh Ngọc Tr (do chị Lê Thị Hồng V – chủ quán trà sữa M.HOUSE giao nộp).

Ngoài ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre còn thu giữ của Liêu Duy Th: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại LEAD, màu đỏ đen, biển số 71B1-238.81.

Theo Kết luận định giá tài sản số 384/KL-HĐĐG ngày 23/5/2022 của Hội đồng định giá thành phố Bến Tre kết luận: 01 xe mô tô biển số 71B3 – 047.87, nhãn hiệu HONDA, số loại: FUTURE, màu đen-ghi, số máy JC54E3147081, số khung 538XEZ095096, trị giá vào ngày 21/4/2022 là 17.600.000 đồng (Bút lục 30-32).

Quá trình điều tra, Lê Văn Th đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, kết quả thực nghiệm điều tra, kết quả định giá và các chứng cứ khác đã thu thập được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre đã giao trả xe mô tô biển số 71B1-238.81 cho chị Nguyễn Thị Trúc Th. Bị hại Huỳnh Ngọc Tr yêu cầu bị can Lê Văn Th bồi thường giá trị tài sản bị chiếm đoạt không thu hồi được là 17.600.000 đồng. Bị cáo đồng ý nhưng chưa bồi thường.

Tại cáo trạng số 69/CT-VKSTPBT ngày 08/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre đã truy tố bị cáo Lê Văn Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung cáo trạng và đề nghị:

+ Về hình phạt chính áp dụng: điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Th từ 02 đến 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

+ Về hình phạt bổ sung: đề nghị không áp dụng.

+ Về xử lý vật chứng: ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre đã giao trả xe mô tô biển số 71B1-238.81 cho chị Nguyễn Thị Trúc Th. Tịch thu tiêu hủy: 01 áo khoát nhãn hiệu adidas, màu đỏ; 01 nón kết nhãn hiệu NIKE, màu đen; 01 quần Jeans màu xanh, trên lưng quần có chữ “JEANS COLLECTION”; 01 áo thun màu đen, trên ngực có chữ “PUMA”. Lưu hồ sơ vụ án 01 đoạn camera ghi nhận hình ảnh Lê Văn Th có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của chị Huỳnh Ngọc Tr (do chị Lê Thị Hồng V – chủ quán trà sữa M.HOUSE giao nộp).

+ Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Huỳnh Ngọc Tr yêu cầu bị cáo Lê Văn Th bồi thường giá trị tài sản bị chiếm đoạt không thu hồi được là 17.600.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường nên buộc bị cáo bồi thường.

- Bị cáo thừa nhận ngày 21/4/2022, bị cáo đi ngang quán trà sữa M.HOUSE ở số 619B10, đường Ca Văn Thỉnh, khu phố 6, phường Phú Khương, thành phố Bến Tre, bị cáo phát hiện xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại: FUTURE, màu đen-ghi, biển số 71B3 – 047.87 dựng trên vỉa hè gần quán trà sữa M.HOUSE không người trông coi nên bị cáo dựng xe đạp gần quán trà sữa M.HOUSE rồi đến ngồi trên bậc thềm gần xe mô tô để quan sát xung quanh. Sau khi quan sát thấy không có ai, bị cáo liền tiếp cận rồi dùng lưỡi dao nhỏ trong bộ dụng cụ cắt móng tay đem theo sẵn bẻ khóa, lấy xe chạy đến tiệm sửa xe Nghĩa kêu Th đến quán trà sữa M.HOUSE lấy xe đạp về. Bị cáo điều khiển xe mô tô vừa trộm được qua thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang bán cho một người thanh niên tên Thanh Mập (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) được 5.000.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết. Bị cáo không khiếu nại các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng. Bị cáo đồng ý bồi thường giá trị tài sản bị chiếm đoạt không thu hồi được là 17.600.000 đồng cho bị hại Huỳnh Ngọc Tr nhưng xin bồi thường sau do hiện nay bị cáo không có tiền để bồi thường.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an thành phố Bến Tre, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặtnhưng trong quá trình điều tra, họ đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng, sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ là phù hợp quy định tại các điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Văn Th tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra, đủ cơ sở xác định: vào khoảng 23 giờ ngày 21/4/2022, tại khu vực vỉa hè đường Ca Văn Thỉnh, khu phố 6, phường Phú Khương, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre, Lê Văn Th đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của chị Huỳnh Ngọc Tr 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại FUTURE, màu đen-ghi, biển số 71B3-047.87 trị giá 17.600.000 đồng.

Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có 03 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa, bị cáo nhận biết rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi bất chính, bị cáo đã cố ý lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung tăng nặng là “Tái phạm nguy hiểm”. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng luật định.

Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, lợi dụng chủ sở hữu thiếu cảnh giác trong việc quản lý tài sản đã thực hiện hành vi phạm tội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Khi bị cáo thực hiện tội phạm đã gây ra tâm lý lo sợ cho quần chúng nhân dân trong lao động, trong sinh hoạt hàng ngày.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có nhân thân xấu đã nhiều lần bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản và vi phạm trật tự công cộng. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: “Người phạm tội thành khẩn khai báo”, theo quy định tại các điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi bị cáo gây ra, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung.

Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh đối với bị cáo là tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với quy định pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre đã giao trả xe mô tô biển số 71B1-238.81 cho chị Nguyễn Thị Trúc Th. Tịch thu tiêu hủy: 01 áo khoát nhãn hiệu adidas, màu đỏ; 01 nón kết nhãn hiệu NIKE, màu đen; 01 quần Jeans màu xanh, trên lưng quần có chữ “JEANS COLLECTION”; 01 áo thun màu đen, trên ngực có chữ “PUMA” là tài sản của bị cáo giao nộp không còn giá trị sử dụng và bị cáo không có yêu cầu nhận lại. Lưu hồ sơ vụ án 01 đoạn camera ghi nhận hình ảnh Lê Văn Th có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của chị Huỳnh Ngọc Tr (do chị Lê Thị Hồng V – chủ quán trà sữa M.HOUSE giao nộp) là vật chứng của vụ án.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Huỳnh Ngọc Trân yêu cầu bị cáo Lê Văn Th bồi thường giá trị tài sản bị chiếm đoạt không thu hồi được là 17.600.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường nên buộc bị cáo bồi thường.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng đối với bị cáo do không có tài sản.

Đối với Liêu Duy Th và Nguyễn Phước H không biết bị cáo Th trộm cắp tài sản nên không truy cứu trách nhiệm. Đối với đối tượng tên Thanh Mập do không xác định được họ, tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.

Về án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bị cáo phải nộp theo quy định của Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 23; Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

1. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Lê Văn Th 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày ngày 21/7/2022.

2. Về trách nhiệm dân sự, áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015: Buộc bị cáo Lê Văn Th bồi thường cho bị hại Huỳnh Ngọc Tr là 17.600.000 (mười bảy triệu sáu trăm nghìn) đồng.

Kể từ khi Bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, số tiền bồi thường nêu trên nếu chưa được thi hành thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

3. Về xử lý vật chứng, áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 áo khoát nhãn hiệu adidas, màu đỏ.

- 01 nón kết nhãn hiệu NIKE, màu đen.

- 01 quần Jeans màu xanh, trên lưng quần có chữ “JEANS COLLECTION”.

- 01 áo thun màu đen, trên ngực có chữ “PUMA”.

(Vật chứng hiện do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre quản lý)

4. Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 23; Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Lê Văn Th phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

Án phí dân sự sơ thẩm bị cáo Lê Văn Th phải nộp 880.000 (Tám trăm tám mươi nghìn) đồng.

5. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

6. Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ