vanban.org

Bản án 86/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước Tuyên án 14/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Phạm Văn X phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỒNG PHÚ
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2022/HS-ST
Ngày: 14 - 11 -2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Giới

2. Bà Hoàng Thị Minh

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Huệ- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Thao - Kiểm sát viên

Ngày 14/11/2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 75/2022/TLST-HS ngày 10/10/2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử 75/2022/QĐXXST-HS ngày 01/11/2022 đối với bị cáo:

Phạm Văn X, sinh năm 1984 tại Bắc Giang; Tên gọi khác: Không; Nơi thường trú: Thôn Lương K, xã Huyền S, huyện Lục N, tỉnh Bắc Giang; Chỗ ở hiện nay: Khu phố Tân T, phường Tân X, thành phố Đồng X, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1948 (đã chết) và bà Bùi Thị D, sinh năm 1949; Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị U, sinh năm 1986; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không; Về nhân thân: Ngày 26/9/2022 bị Công an thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản số tiền 2.500.000đ; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/8/2022 cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

Anh Trần Xuân C, sinh năm 1972 (Có yêu cầu xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp C, xã Tân T, huyện Đồng P, tỉnh Bình Phước.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Đặng Văn M, sinh năm 1992 (Có yêu cầu xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp 2, xã Tiến H, thành phố Đồng X, tỉnh Bình Phước.

Anh Phan Tấn T, sinh năm 1991 (Có yêu cầu xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp 4, xã Tiến H, thành phố Đồng X, tỉnh Bình Phước.

Chị Nguyễn Thị U, sinh năm 1986 (Có mặt).

Địa chỉ: Khu phố Tân X, phường Tân X, thành phố Đồng X, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Văn X là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định, do cần tiền tiêu xài cá nhân nên trong khoảng thời gian từ ngày 01/7/2022 đến ngày 04/7/2022, Xuân đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản. Cụ thể như sau:

Vụ thứ 1: Khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 01/7/2022 Phạm Văn X điều khiển xe Yamaha Jupiter màu xanh trắng, biển số 93H1-065.41 của vợ là chị Nguyễn Thị U, mang theo một sợi dây thừng đi từ thành phố Đồng X đến khu vực thị trấn Tân P, huyện Đồng P tìm nhà dân có sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi X đi đến công trình đang xây dựng nhà ở của ông Lương Ngọc Q thuộc tổ 2, khu phố Tân L, thị trấn Tân P do ông Trần Xuân C làm chủ thầu xây dựng thì Xuân phát hiện phía trước có hàng rào sắt chắn sơ sài không có người trông coi nên Xuân dừng xe mô tô đi vào bên trong kho khu vực công trình lấy trộm 01 máy cắt gỗ, 01 máy cắt sắt thủy lực màu đỏ, 02 máy cắt sắt (dạng máy bàn) màu xanh rồi đưa ra xe mô tô. Sau đó, X dùng dây thừng mang theo trước đó cột máy lại và điều khiển xe mô tô chở số máy trộm cắp được đến tiệm sửa chữa điện cơ “NH” thuộc xã Tiến H, thành phố Đồng X bán cho anh Đặng Văn M là chủ cửa hàng được tổng số tiền là 3.200.000đ. Số tiền có được X đã tiêu xài cá nhân hết.

Vụ thứ 2: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 04/7/2022, X tiếp tục đi đến công trình đang xây dựng nhà ở của ông Lương Ngọc Q thuộc tổ 2, khu phố Tân L, thị trấn Tân P do ông Trần Xuân C làm chủ thầu xây dựng để trộm cắp tài sản. Do khi đến thấy cửa nhà kho bị khóa nên Xuân nhặt 01 đoạn kim loại bẻ khóa cửa kho. Sau khi phá được ổ khóa, X vào trong kho dùng 01 chiếc kìm cộng lực cắt đứt sợi dây xích và lấy 01 máy cắt sắt (loại máy cắt bàn) màu đỏ, 01 máy uốn thủy lực màu xanh, 01 máy đầm thước màu đỏ mang ra xe mô tô. Sau đó, Xuân chở số tài sản trộm cắp được đến cửa hàng sửa chữa điện cơ “PT” thuộc khu phố Tân T, phường Tân B, thành phố Đồng X bán cho anh Phan Tấn T được tổng số tiền 1.900.000đ. Số tiền do trộm cắp tài sản có được X đã tiêu xài cá nhân hết.

Ngoài ra, X còn khai nhận ngày 14/7/2022 X lấy trộm 01 máy mô tơ điện nhãn hiệu CĐK, loại máy kéo cối trộn màu xanh dương thuộc công trình xây dựng tại thành phố Đồng X.

Tại Bản cáo trạng số 78/CT-VKS ngày 06/10/2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Phạm Văn X về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Văn X phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn X mức án từ 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 Bì thư màu trắng bên ngoài có chữ ký của ông Lê Ngọc H, ông Trần Xuân C, ông Nguyễn Mạnh H và đóng mộc niêm phong của Cơ quan CSĐT Công an huyện Đồng Phú bên trong có 01 USB hiệu Transcend loại 16G; tịch thu, tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm màu xanh- trắng – cam, trên mũ có in dòng chữ màu trắng “LUCKY PAINT” và 01 sợi dây thừng, loại dây dù màu xanh, dài 3,33m.

Bị cáo không tranh luận, không kêu oan.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đồng Phú, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại về thời gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án và toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định:

Ngày 01/7/2022, bị cáo Phạm Văn X có hành vi lén lút chiếm đoạt của ông Trần Xuân Cg: 01 máy cắt gỗ nhãn hiệu Makita màu xanh, loại 5806B, công suất 1050W; 01 máy cắt sắt thủy lực có ký hiệu DC-25X màu đỏ; 01 máy cắt sắt dạng máy bán nhãn hiệu Makita màu xanh, loại LW 1401, công suất 2200W, số 00115420; 01 máy cắt sắt dạng máy bàn, nhãn hiệu Makita màu xanh loại LW 1401, công suất 2200W, số 00216965 .

Ngày 04/7/2022, bị cáo Phạm Văn X có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 máy cắt sắt nhãn hiệu Maktec màu đỏ, loại MT240; 01 máy uốn sắt thủy lực, nhãn hiệu Ogura, loại HBB-32 màu xanh; 01 máy đầm thước nhãn hiệu KAMASTSU, loại 4 Stronke màu đỏ của ông Trần Xuân C.

Căn cứ Kết luận định giá tài sản số: 39/KL-HĐĐGTTTHS, ngày 01/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đồng Phú kết luận:

01 máy cắt gỗ nhãn hiệu Makita màu xanh, loại 5806B, công suất 1050W có giá 2.000.000đ (Hai triệu đồng);

01 máy cắt sắt thủy lực có ký hiệu DC-25X màu đỏ có giá 4.000.000đ (Bốn triệu đồng);

01 máy cắt sắt dạng máy bán nhãn hiệu Makita màu xanh, loại LW 1401, công suất 2200W, số 00115420 có giá 1.280.000đ (Một triệu hai trăm tám mươi ngàn đồng);

01 máy cắt sắt dạng máy bàn, nhãn hiệu Makita, màu xanh loại LW 1401, công suất 2200W, số 00216965 có giá 1.280.000đ (Một triệu hai trăm tám mươi ngàn đồng);

01 máy cắt sắt nhãn hiệu Maktec màu đỏ, loại MT240 có giá 800.000đ (Tám trăm ngàn đồng);

01 máy uốn sắt thủy lực, nhãn hiệu Ogura, loại HBB-32 màu xanh có giá 7.200.000đ (Bảy triệu hai trăm ngàn đồng).

Căn cứ Kết luận định giá tài sản số: 41/KL-HĐĐGTTTHS, ngày 08/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đồng Phú kết luận: 01 máy đầm thước nhãn hiệu KAMASTSU, loại 4 Stronke màu đỏ có giá tại thời điểm bị chiếm đoạt là 3.600.000 đồng (Ba triệu sáu trăm ngàn đồng).

Tổng giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt của bị hại Trần Xuân C là 20.160.000đ (Hai mươi triệu một trăm sáu mươi ngàn đồng), hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành Tội trộm cắp tài sản. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú truy tố bị cáo tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự ra trước phiên tòa hôm nay là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với anh Đặng Văn M và anh Phan Tấn T là người số máy móc mà bị cáo Xuân chiếm đoạt của bị hại Trần Xuân C. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra xác định tại thời điểm mua bán, anh M và anh T không biết số máy móc bị cáo Phạm Văn X bán là do trộm cắp mà có nên không có căn cứ xử lý.

Đối với chị Nguyễn Thị U là chủ xe mô tô Yamaha Jupiter màu xanh trắng, biển số 93H1-065.41, khi bị cáo X sử dụng xe vào mục đích trộm cắp tài sản thì chị U hoàn toàn không biết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với hành vi chiếm đoạt tài sản là 01 máy mô tơ điện nhãn hiệu CĐK, loại máy kéo cối trộn màu xanh dương thuộc công trình xây dựng tại thành phố Đồng X ngày 14/7/2022, Công an thành phố Đồng Xoài đã xử lý xong nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Bị cáo đã thành niên, đang trong độ tuổi lao động, bị cáo có thể tự tìm kiếm cho mình một công việc phù hợp với năng lực và sức khỏe để mang lại thu nhập hợp pháp nhưng do lười lao động nên bị cáo đã thực hiện hành vi của mình. Bị cáo cũng hoàn toàn nhận thức được chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nhiều lần. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương. Do vậy, cần áp dụng một hình phạt tương xứng với tính chất và hậu quả mà hành vi của bị cáo đã gây ra.

Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản đã được thu hồi và trả lại cho bị hại. Đồng thời, gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại nên bị cáo được Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo nhằm răn đe, giáo dục, để bị cáo có thời gian học tập cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội và mục đích phòng ngừa chung.

Về vật chứng vụ án:

01 Bì thư màu trắng bên ngoài có chữ ký của ông Lê Ngọc H, ông Trần Xuân C, ông Nguyễn Mạnh H và đóng mộc niêm phong của Cơ quan CSĐT Công an huyện Đồng Phú bên trong có 01 USB hiệu Transcend loại 16G là tài liệu chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo cần lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

01 mũ bảo hiểm màu xanh- trắng – cam, trên mũ có in dòng chữ màu trắng “LUCKY PAINT” là tài sản của bị cáo không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.

01 sợi dây thừng, loại dây dù màu xanh, dài 3,33m là công cụ bị cáo thực hiện vào mục đích phạm tội, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Đối với các vật chứng khác, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đồng Phú đã xử lý đúng theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Vợ bị cáo là chị Nguyễn Thị U đã tự nguyện bồi thường cho bị hại Trần Xuân C số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Bị hại Trần Xuân C, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đặng Văn M, Phan Tấn T và Nguyễn Thị U không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu theo luật định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo và việc xử lý vật chứng là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn X phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

- Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn X 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/8/2022.

- Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 Bì thư màu trắng bên ngoài có chữ ký của ông Lê Ngọc H, ông Trần Xuân C, ông Nguyễn Mạnh H và đóng mộc niêm phong của Cơ quan CSĐT Công an huyện Đồng Phú bên trong có 01 USB hiệu Transcend loại 16G .

Tịch thu, tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm màu xanh- trắng – cam, trên mũ có in dòng chữ màu trắng “LUCKY PAINT”, 01 sợi dây thừng, loại dây dù màu xanh, dài 3,33m.

- Về án phí:

Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

Bị cáo Phạm Văn X phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo:

Bị cáo Phạm Văn X, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị U có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Đối với bị hại Trần Xuân C, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đặng Văn M, Phan Tấn T do vắng mặt tại phiên tòa nên thời hạn kháng cáo bản án tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ