- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hứa Văn V - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hứa Văn V phạm tội “Trộm c p tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 86/2022/HS-ST Ngày: 06-9-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Tình.
Ông Nguyễn Long Giang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Phương, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Thái Hoàng Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 59/2022/TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2022/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2022/HSST-QĐ ngày 19 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Hứa Văn V, sinh năm 2001 tại Cao Bằng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xóm L, xã V, huyện K, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Nùng; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lục Văn M và bà Hứa Thị H; tiền án: không; tiền sự: không; bị b t, tạm giữ ngày 10 tháng 4 năm 2022 đến ngày 13 tháng 4 năm 2022 tạm giam cho đến nay, có mặt.
- Bị hại: Anh Mua Mí D, sinh năm 1994; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn N, xã C, huyện Y, tỉnh Hà Giang; chỗ ở hiện nay: ấp 3, xã H1, huyện B, tỉnh Bình Dương; v ng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Trịnh Thị Đ, sinh năm 1989; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xóm 21, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; chỗ ở hiện nay: ấp 1, xã H1, huyện B, tỉnh Bình Dương; v ng mặt.
NỘI Đ VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Hứa Văn V là đối tượng không có nghề nghiệp, sống lang thang tại khu vực ấp 3, xã H1, huyện B, tỉnh Bình Dương. Khoảng 21 giờ ngày 09 tháng 4 năm 2022, Hứa Văn V đi bộ đến nhà trọ Nguyễn Mạnh C1 thuộc ấp 3, xã H1, huyện B, tỉnh Bình Dương để trộm c p tài sản. Khi V đi ngang qua phòng trọ số 46 của anh Mua Mí D thấy phòng không khóa cửa nên V mở cửa phòng quan sát. V phát hiện anh D đang t m nên vào phòng, V phát hiện tại chỗ nệm của anh D có 01 bóp da, V mở bóp da có 8.400.000 đồng của anh D. Sau khi lấy số tiền trên, V đến tiệm điện thoại Khánh Đại Phát thuộc ấp 1, xã H1, huyện B, tỉnh Bình Dương gặp chị Trịnh Thị Đ mua 01 điện thoại Iphone 6Splus, 01 sim điện thoại và 01 cục sạc điện thoại trị giá 4.700.000 đồng. V tiếp tục tiêu xài cá nhân 342.000 đồng.
Đối với anh D sau khi bị mất số tiền 8.400.000 đồng, anh D trình báo Công an xã Hưng Hòa. Qua điều tra xác minh đã xác định được V là người trộm c p tài sản nên mời V đến trụ sở làm việc. Qua làm việc, V khai nhận hành vi phạm tội của mình. Công an xã Hưng Hòa lập hồ sơ ban đầu rồi chuyển cho Công an huyện Bàu Bàng xử lý theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo V thừa nhận sự việc phạm tội của mình đúng như Cáo trạng đã truy tố.
Bị hại anh D; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Đ quá trình điều tra, truy tố bị không có ý kiến gì về hành vi phạm tội của bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm c p tài sản”.
Về các vấn đề khác của vụ án:
Theo Biên tạm giữ tài sản, đồ vật tài liệu ngày 10 tháng 4 năm 2022 (bút lục số 04), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an xã Hưng Hòa, huyện Bàu Bàng đã thu giữ: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus số sơ ri: C39QPDNKGRX5; 01 sim điện thoại; 01 cục xạc; 01 dây xạc; 01 sổ bảo hiểm xã hội mang tên Hứa Văn V, mã số 0420302830; 01 thẻ bảo hiểm xã hội mang tên Hứa Văn V số 0420302830 và 3.358.000 đồng.
Theo Biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật dữ liệu điện tử ngày 10 tháng 4 năm 2022 (bút lục số 08), Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bàu Bàng đã thu giữ số tiền 4.700.000 đồng do chị Đ nộp.
Theo Biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật dữ liệu điện tử ngày 10 tháng 4 năm 2022 (bút lục số 18), Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bàu Bàng đã thu giữ 01 USB bên trong có chứa nội Đ hình ảnh vụ trộm c p tài sản xảy ra ngày 09 tháng 4 năm 2022 tại nhà trọ Nguyễn Mạnh C1.
Về xử lý vật chứng:
Ngày 27 tháng 4 năm 2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bàu Bàng ra Quyết định xử lý tài sản đồ vật, tài liệu số 24/QĐ-DTTH trả 01 điện thoại Iphone 6Splus, 01 sim điện thoại và 01 cục sạc điện thoại cho chị Trịnh Thị Đ.
Ngày 27 tháng 4 năm 2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bàu Bàng ra Quyết định xử lý tài sản đồ vật, tài liệu số 23/QĐ-DTTH trả 8.058.000 đồng cho anh Mua Mí D.
Ngày 27 tháng 4 năm 2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bàu Bàng ra Quyết định xử lý tài sản đồ vật, tài liệu số 25/QĐ-DTTH trả 01 sổ bảo hiểm xã hội mang tên Hứa Văn V, mã số 0420302830; 01 thẻ bảo hiểm xã hội mang tên Hứa Văn V số 0420302830 cho bị cáo V.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về các vấn đề trên.
Bị hại anh D và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Đ v ng mặt tại phiên tòa; quá trình điều tra, truy tố không có ý kiến gì về các vấn đề trên.
Về trích dẫn cáo trạng của Viện kiểm sát:
Bản Cáo trạng số 61/CT-VKSBB ngày 06 tháng 7 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Hứa Văn V về tội “Trộm c p tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Về mức hình phạt: áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo V từ 08 (tám) tháng đến 10 (mười) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: đã xử lý xong.
Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên.
Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án v ng mặt tại phiên tòa nên không ghi nhận được ý kiến.
Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo không nói lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
[1.1] Bị hại anh D và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Đ v ng mặt tại phiên tòa nhưng không trở ngại cho việc giải quyết vụ án, căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử.
[1.2] Về hành vi, quyết định tố tụng khác của Cơ quan điều tra Công an huyện Bàu Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: vào khoảng 21 giờ ngày 09 tháng 4 năm 2022, tại nhà trọ Nguyễn Mạnh C1 thuộc ấp 3, xã H1, huyện B, tỉnh Bình Dương bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt số tiền 8.400.000 đồng của bị hại anh D. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, phù hợp lời khai của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, nội dung bản Cáo trạng và diễn biến tại phiên tòa. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo phạm tội “Trộm c p tài sản”. Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của các bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn cần thiết.
Vì tham lam, muốn hưởng thụ nhưng lại lười lao động và muốn có tiền tiêu xài nhanh chóng nên đã cố ý phạm tội. Xét về yếu tố lỗi, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất hành vi phạm tội, đủ để giáo dục răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn diện nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn và bị cáo là người dân tộc thiểu số nên được hưởng các tình tiết quy định tại điểm h, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không
Xét đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt đối với bị cáo tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Hội đồng xét xử quyết định cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.
Về xử lý vật chứng: ngày 27 tháng 4 năm 2022, Cơ quan điều tra huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương đã trả lại cho bị hại anh D số tiền 8.058.000 đồng; trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Đ 01 điện thoại Iphone 6Splus, 01 sim điện thoại và 01 cục sạc điện thoại; trả cho bị cáo V 01 sổ bảo hiểm xã hội mang tên Hứa Văn V, mã số 0420302830; 01 thẻ bảo hiểm xã hội mang tên Hứa Văn V số 0420302830 là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Căn cứ vào Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 260, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Hứa Văn V phạm tội “Trộm c p tài sản”.
Xử phạt bị cáo Hứa Văn V 08 (tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10 tháng 4 năm 2022.
Về xử lý vật chứng: đã xử lý xong.
Về án phí: bị cáo Hứa Văn V phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án v ng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện Bàu Bàng; - Công an huyện Bàu Bàng; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng; - Bị cáo; bị hại; - Người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có); - Lưu: hồ sơ, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tùng THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tùng |