- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức T và đồng phạm có hành vi cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều…"
- Tòa quyết gì? Giao bị cáo Nguyễn Đức T cho Ủy ban nH dân xã Đ1, huyện S, tỉnh V giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NH DÂN TỈNH V | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 86/2022/HS-PT Ngày 19 - 9 - 2022 |
NH DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NH DÂN TỈNH V
T phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Vĩnh T.
Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Thái;
Bà Lê Thị Bích Ngọc.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Hiệp, Thư ký Toà án nH dân tỉnh V.
Đại diện Viện kiểm sát nH dân tỉnh V tham gia phiên toà: Bà Mầu Mai Quyên, Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nH dân tỉnh V, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 80/2022/TLPT- HS ngày 13 tháng 7 năm 2022, đối với bị cáo Nguyễn Đức T và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2022/HS-ST ngày 30 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nH dân huyện S, tỉnh V.
- Các bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Đức T, sinh ngày 20/10/1986; Nơi cư trú: thôn Đ, xã Đ1, huyện S, tỉnh V; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1954 và bà Trần Thị L, sinh năm 1957; vợ Kim Thị H, sinh năm 1990; Có 01 con sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại; (có mặt tại phiên tòa).
2. Đào Văn T1, sinh ngày 29/10/1994; Nơi cư trú: thôn C, xã Đ1, huyện S, tỉnh V; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Duy T2, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1963; vợ Nguyễn Phương T3, sinh năm 1998; Có 01 con sinh năm 2019 (hiện bố, mẹ, vợ và con đều ở xã Đ1, huyện S); Tiền án, tiền sự: Không. NH tH: Năm 2017 bị Công an huyện S xử phạt hành chính về hành vi gây tổn hại sức khỏe người khác. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/01/2022 đến ngày 29/01/2022. Bị cáo tại ngoại; (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 22 tháng 12 năm 2021, Đào Văn T1 cùng với Nguyễn Đức T và Nguyễn Văn Khương, đều trú tại xã Đ1, huyện S đi đến hát karaoke tại phòng số 01 của quán H có địa chỉ tại thôn T, xã Đ1, huyện S. Sau khi hát xong thì T1 và T đi ra ngồi uống nước, hút thuốc tại bàn uống nước gần quầy thu tiền của quán, một lúc thì có anh Khổng Văn H, trú tại thôn Giạn, xã Cao Phong, huyện S là người đến hát tại phòng hát số 03 của quán karaoke H đi ra để thanh toán tiền hát. Lúc này anh H cũng ngồi xuống bàn uống nước của quán, H nói với T “Các anh ở đâu” với thái độ hất hàm về phía của T thì T trả lời “ thế mày ở đâu mà mày hỏi bọn tao ở đâu”, thấy H hỏi như vậy T nghĩ là H đang hỏi đểu mình nên nói bảo H “Mày ra quán bia tao bảo” ý T lúc này gọi H ra quán bia đế đánh dằn mặt nhưng H không đồng ý đi cùng T. T liền lấy Đ thoại ra gọi cho Nguyễn Văn Đ là bạn của T và T1, trú tại thôn Yên Tĩnh, xã Đ1, huyện S và nói “Mày đi ra quán hát Trường Huệ với anh, có việc gấp”. Sau khi T và H nói chuyện to tiếng với nhau được một lúc thì anh Vũ Q M, trú tại thôn T, xã Đ, huyện S là bạn đi hát cùng H đi ra nói với H “Anh em có gì đâu, mày lên xe anh chở về” rồi M chở H để đi về thì T liền đi bộ theo sau, còn T1 cũng dắt xe máy đi sát theo T. Khi anh M chở anh H ra đến cổng thì bị T đứng chặn đầu xe lại, lúc này T1 cũng dắt xe đến chỗ T đứng. T nói với H “Mày xuống xe tao bảo, ra ngồi quán bia anh em mình nói chuyện”, thấy H không chịu xuống xe thì T nói tiếp “Mày phải xuống xe để nói chuyện”, nghe T nói vậy H liền chửi thách đố nhau với T một lúc. Khi H xuống đứng cạnh xe thì lúc này Nguyễn Văn Đ chở bạn là Q người ở Tuyên Q (Đ khai là mới quen ngoài xã hội, không rõ được nH tH lý lịch cụ thể ở đâu) đi đến. Thấy H xuống xe rút Đ thoại ra gọi cho ai đó thì T1 tiến lại gần H và nói “mày gọi được cho ai thì mày gọi ra luôn đi” đồng thời T1 dơ nắm đấm nhứ về phía mặt của H rồi nói tiếp “Mày thích gì”. Khi này có anh Nguyễn Văn T ở thôn Tiến Bộ, xã Đ1 là người đi đắp bờ ruộng qua thấy to tiếng nên có đứng lại can ngăn T1. Đ thấy anh H rút Đ thoại ra gọi người thì bực tức lao vào dùng tay phải đấm 01 cái vào mặt khiến anh H chảy máu mồm ngã xuống đường, liền ngay đó Q cũng lao vào dùng cH đá 3 đến 4 cái vào phần ngực, bụng và lưng của anh H. Anh T thấy vậy chạy lại can ngăn và nói với Đ “Em đi về đi, đây là đứa em của anh” thì Đ và Q không đánh anh H nữa rồi lên xe bỏ đi về. Sau khi bị Đ và Q đánh, anh H đứng dậy nhìn xung quanh để tìm đồ vật đánh lại nhóm của T1 và T nhưng không có, anh H chạy vào ngõ gần đó nhặt 02 nửa viên gạch (loại gạch bổ lát nền nhà) mỗi tay cầm một nửa viên gạch có kích thước khoảng 20 x 25cm rồi chạy quay lại hướng của T và T1 đang đứng thì được anh T can ngăn đẩy H ra. Lúc này T và T1 cũng nhìn ngó xung quanh vị trí mình đứng tìm đồ vật để đánh anh H. Khi anh H cầm gạch chạy quay lại thì T1 nhặt được 01 đoạn gậy tre đực dài l,72m có đường kính trung bình 4,5cm dựng ở bờ rào gần đó lao về hướng của H, còn T không lấy được đồ vật gì nên đứng cạnh T1. Khi đang can ngăn anh H, anh T thấy T1 cầm gậy liền chạy quay sang can ngăn T1 nhưng T1 vẫn hai tay cầm vào một đầu của đoạn gậy vung lên vụt 01 cái từ trên xuống dưới, từ phải qua trái trúng vào vùng gò má trái của anh H khiến anh H ngã xuống đất và bất tỉnh, thấy anh H chảy nhiều máu nằm bất tỉnh dưới đất thì T1 và T lên xe bỏ chạy trốn, còn anh H được mọi người đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện S, sau đó được đưa đi Bệnh viện đa khoa tỉnh P để điều trị. Hậu quả: anh H bị bầm tím nhiều vùng hàm mặt, vùng ổ mắt hai bên, xưng nề má trái, kết quả sọ não có hình ảnh gãy cung tiếp gò má trái, phải đi khám và điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh P đến ngày 27/12/2021, ra viện. Tại bệnh án số: 1330 của Bệnh viện Đa khoa tỉnh P chuẩn đoán anh H bị thương tích như sau: Vết thương Góc trán phải có khối sưng nề, bầm tím; Quầng mắt trái bầm tím; Bầm tím quanh hốc mắt phải trái; Gò má trái có đám biến đổi sắc tố da; Gò má phải có đám bầm tím nhạt màu; Niên mạc môi trên bên trái có vết sẹo; Bầm tím trên ngực trái.
Nhận được tin báo, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S đã tiến hành khám nghiệm hiện trường. Quá trình khám nghiệm hiện trường đã thu giữ tại hiện trường 01 chiếc gậy tre đã khô một phần, dài 1,72m và đường kính trung bình 4,5cm; 06 mảnh gạch vỡ loại đất nung màu đỏ.
Ngày 27/12/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện S ra Quyết định Trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh V giám định Pháp y về thương tích đối với anh Khổng Văn H. Ngày 28/12/2021, Trung tâm pháp y tỉnh V có văn bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 448/KLGĐ, xác định thương tích của anh Khổng Văn H gồm: Góc trán phải có khối sưng nề, bầm tím trên diện 4 x 3cm; Quầng mắt trái bầm tím trên diện 4,5 x 4cm; Bầm tím quanh hốc mắt phải trái; Gò má trái có đám biến đổi sắc tố da 12 x 3cm, ở giữa có 02 vết sẹo nằm ngang kích thước 2,5 x 0,2cm và 2 x 0,3cm; Gò má phải có đám bầm tím nhạt màu nằm ngang 9 x 2,5cm; Niên mạc môi trên bên trái có vết sẹo 1 x 0,2cm; Bầm tím trên ngực trái 15 x 10cm. Ngoài ra không có thương tích gì khác.
Kết luận: Gãy cung tiếp gò má trái, xếp 08%; Sẹo vết thương phần mềm gò má trái, kích thước nhỏ, xếp 03%; Sẹo vết thương phần mềm thái dương trái, kích thước nhỏ, xếp 01%; Đám biến đổi rối loạn sắc tố da gò má trái, xếp 0,5%; Sẹo vết thương phần mềm niên mạc môi trên bên trái (không khâu) không có trong danh mục xếp tỷ lệ phần trăm; Chấn động não + Sưng nề bầm tím góc trán phải + Bầm tím quanh hốc mắt phải + mắt trái + bầm tím ¼ trên ngực trái chưa đánh giá được mức độ tổn thương điều trị ổn định giám định bổ sung. Các thương tích đã mô tả trên có thể là do vật tày gây nên. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể xếp 12% (Mười hai phần trăm).
Ngày 21/01/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện S ra Quyết định Trưng cầu giám định bổ sung thương tích của anh H. Tuy nhiên anh H đã từ chối giám định bổ sung với lý do sức khoẻ của anh hoàn toàn được bình phục.
Đối với Nguyễn Văn Đ là người được T gọi đến, ban đầu Đ không biết T gọi đến để đánh rằn mặt anh H nhưng khi đến thấy anh H đang cãi nhau với T thì Đ biết là T gọi đến nhằm giúp sức cho T. Tuy nhiên Đ chỉ dùng tay đánh 01 cái vào mồm anh H làm rách chảy máu môi, sau khi được anh T can ngăn thì Đ đã dừng lại lên xe đi về và không tham gia tiếp với T nữa. Kết quả giám định vết thương do Đ gây ra cho anh H không có tỷ lệ % tổn hại sức khoẻ nên hành vi không cấu T tội phạm, Cơ quan điều tra ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đ số tiền 6.500.000đ là có căn cứ.
Đối với Q là người cùng đi với Nguyễn Văn Đ, các đối tượng khai Q có tham gia dùng cH đá 3 - 4 cái vào phần ngực anh H gây chấn thương phần mềm, khi thấy anh T can ngăn thì Q đã dừng lại lên xe đi về cùng Đ và không tham gia với T nữa. Kết quả giám định vết thương do Q gây ra cho anh H không có tỷ lệ % tổn hại sức khoẻ nên hành vi không cấu T tội phạm. Bản tH Đ khai chỉ quen biết Q ngoài xã hội, không biết nH tH, lý lịch và địa chỉ cụ thể của Q ở đâu nên Cơ quan điều tra tách ra điều tra là rõ thì xử lý sau.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 06/01/2022 các bị cáo T và T1 đã tự nguyện bồi thường cho anh H số tiền 60.000.000đ là toàn bộ chi phí điều trị thương tích, tổn thất tinh thần, sức khỏe và thu nhập bị mất, anh H không yêu cầu các bị cáo T và T1 phải bồi thường gì thêm và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt cho các bị cáo được hưởng án treo.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2022/HS-ST ngày 30 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nH dân huyện S, tỉnh V đã quyết định:
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Đức T và Đào Văn T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Phạt bị cáo Nguyễn Đức T 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình
Phạt bị cáo Đào Văn T1 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù. Thời gian tạm giam từ ngày 04/01/2022 đến ngày 29/01/2022 được trừ vào thời hạn chấp hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
Ngày 07/6/2022 bị cáo Nguyễn Đức T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Ngày 07/6/2022 bị cáo Đào Văn T1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo T, T1 giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nH dân tỉnh V phát biểu quan điểm:
- Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đào Văn T1 giữ nguyên bản án sơ thẩm số 19/2022/HS-ST ngày 30 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nH dân huyện S, tỉnh V về phần hình phạt đối với bị cáo Đào Văn T1. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đào Văn T1 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
- Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức T , sửa bản án sơ thẩm số 19/2022/HS-ST ngày 30 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nH dân huyện S, tỉnh V về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Đức T. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên không đề nghị xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Căn cứ vào lời khai, lời nhận tội của các bị cáo Nguyễn Đức T và Đào Văn T1, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tranh tụng tại phiên tòa, đã có đủ cơ sở để xác định: Xuất phát từ việc mâu thuẫn trong khi ngồi uống nước giữa T và anh H, khoảng 15 giờ 30 phút ngày 22/12/2021 tại khu vực thôn T, xã Đ1, huyện S, Nguyễn Đức T đã có hành vi đe dọa anh H và gọi cho Nguyễn Văn Đ cùng đối tượng tên Q đến dùng tay, cH đánh anh H sau đó Đ và Q bỏ đi. Khi thấy T và T1 đang còn đứng ở đó thì anh H chạy ra cách đó một đoạn, hai tay nhặt cầm được hai nửa viên gạch lát rồi quay lại để đánh T và T1. Đào Văn T1 thấy anh H cầm gạch chạy về phía mình thì nhặt một chiếc gậy tre đã khô dài 1,72m đường kính trung bình 4,5cm vung lên vụt 01 cái từ trên xuống dưới, từ phải qua trái trúng vào vùng gò má trái của anh H khiến anh H ngã xuống đất và bất tỉnh được mọi người đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện S, sau đó được đưa đi Bệnh viện đa khoa tỉnh P để điều trị đến ngày 27/12/2021 ra viện. Hậu quả anh Khổng Văn H bị bầm tím nhiều vùng mặt, vùng ổ mắt hai bên, sưng nề má trái, kết quả sọ não có hình ảnh gãy cung tiếp gò má trái, tổn hại sức khỏe là 12%. Với mâu thuẫn nhỏ nhặt và dùng hung khí nguy hiểm để gây thương tích cho anh H của T, T1 làm tổn hại sức khỏe cho anh H 12% nên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.
Xét kháng cáo về việc xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của các bị cáo thì thấy:
Đối với bị cáo Nguyễn Đức T: Trước khi phạm tội bị cáo T là người có nH tH tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn T khẩn khai báo, tỏ ra biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt cho các bị cáo, ngoài ra bố đẻ bị cáo T được tặng thưởng nhiều giấy khen. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và xét xử bị cáo 02 năm tù là phù hợp, không có cơ sở để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Trong vụ án này, mặc dù T là người gây sự với anh H trước nhưng T không trực tiếp gây thương tích cho anh H. T1 đi cùng T, tiếp nhận ý chí gây sự với bị hại của T nên T1 dùng gậy tre trực tiếp vụt vào mặt anh H dẫn đến thương tích của anh H, T và T1 là đồng phạm nên T cùng phải chịu hậu quả do hành vi gây thương tích của T1 gây ra với anh H. Tuy nhiên T là người không trực tiếp tấn công gây thương tích, không trực tiếp gây ra hậu quả thương tích cho bị hại. Bị cáo có bố mẹ già yếu, có bố là người có nhiều T tích trong sự nghiệp giáo dục nên nếu cho bị cáo T được hưởng án treo có sự giúp đỡ giáo dục của gia đình và chính quyền cũng đủ giúp bị cáo T người có ích cho xã hội. Hội đồng xét xử khoan hồng cho bị cáo, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên hình phạt 02 năm tù đối với bị cáo nhưng cho bị cáo T được hưởng án treo.
Đối với bị cáo Đào Văn T1: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo T khẩn khai báo, tỏ ra biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt cho các bị cáo. Năm 2017 bị cáo bị Công an huyện S xử phạt hành chính về hành vi gây tổn hại sức khỏe người khác nhưng Công an không tống đạt được Quyết định xử phạt vi phạm hành chính cho bị cáo nên nay hết thời hiệu xử phạt. Như vậy cũng cho thấy bị cáo là người chưa chấp hành tốt pháp luật. Trong vụ án này bị cáo là người trực tiếp dùng hung khí gây thương tích cho bị hại, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và xét xử bị cáo 02 năm 02 tháng tù là phù hợp tính chất, vai trò, mức độ tội phạm do bị cáo gây ra, đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Quan điểm đề xuất về việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên là phù hợp quan điểm Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo T được chấp nhận nên bị cáo T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Kháng cáo của bị cáo T1 không được chấp nhận nên bị cáo T1 phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức T, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đào Văn T1. Sửa một phần bản án sơ thẩm số 19/2022/HS-ST ngày 30 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nH dân huyện S, tỉnh V về phần hình phạt.
2. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Đức T cho Ủy ban nH dân xã Đ1, huyện S, tỉnh V giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Đào Văn T1 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giam từ ngày 04/01/2022 đến ngày 29/01/2022.
4. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án bị cáo Nguyễn Đức T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Đào Văn T1 phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
T VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Thái Lê Thị Bích Ngọc
Nguyễn Vĩnh T
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh V; - Sở Tư pháp tỉnh V; - TAND huyện S; - VKS huyện S; - Cơ quan điều tra CA H.S; - Phòng Hồ sơ Công an tỉnh V; - Chi cục THADS huyện S; - UBND xã Đ1; - Các bị cáo; - Lưu hồ sơ, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Vĩnh T |