- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị Vân Y phạm tội “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lê Thị Vân Y 04 (bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH B NH ĐỊNH [ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 86/2022/HS-PT Ngày: 20.5.2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH B NH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình
Các Thẩm phán: Ông Lê Văn Duy
Ông Lê Xuân Hải.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thanh Việt - Thư ký TAND tỉnh Bình Định
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Bà
Hồ Kim Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 57/2022/TLPT-HS ngày 07 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo Lê Thị Vân Y do có kháng cáo của bị cáo Lê Thị Vân Y đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 89/2022/HS-ST ngày 28 tháng 02 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Z, tỉnh Bình Định.
- Bị cáo có kháng cáo:
1. Lê Thị Vân Y, sinh năm 1984, tại thành phố Z, tỉnh Bình Định; nơi ĐKNKTT: Thôn A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bình Định; Chỗ ở: A1, khu phố B1, phường C, thành phố Z, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông không rõ và bà K, sinh năm 1964; chồng: H, sinh năm: 1979 (đã ly hôn), có 03 người con, lớn sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án: Không; tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 03/7/2017, bị Công an thành phố Z xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Xâm hại sức khỏe của người khác”; Ngày 15/01/2019, TAND tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong vào ngày 02/01/2020; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 22/8/2021, X điều khiển xe mô tô biển số 77X9-7061 chở Lê Thị Vân Y đi chơi. Khi đi ngang qua bãi đất trống trước Công ty Z, X và Y thấy nhiều dây cáp điện (hàng thải loại, vỏ nhựa màu đen, bên trong gồm nhiều dây điện nhỏ vỏ nhựa nhiều màu, lõi đồng đỏ) của Công ty Z thu hồi đang để ở đây, không ai trông coi nên Y và X rủ nhau trộm cắp các đoạn dây cáp điện trên. Y dừng xe lại rồi cùng X lấy trộm các đoạn dây cáp điện.
Ngày 04/10/2021, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Quy Nhơn kết luận: Tổng giá trị của dây cáp điện là: 4.800.000 đồng.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 89/2022/HS-ST ngày 28 tháng 02 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Z đã quyết định:
Tuyên bố: Các bị cáo X, Lê Thị Vân Y phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 54 của Bộ luật hình sự,
Xử phạt bị cáo Lê Thị Vân Y 04 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn xử phạt X 12 tháng cải tạo không giam giữ; quyết định về án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.
- Ngày 01.3.2022, bị cáo Lê Thị Vân Y kháng cáo xin được hưởng án treo.
- Tại phiên toà, Kiểm sát viên đề nghị quan điểm giải quyết vụ án: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thị Vân Y, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó HĐXX có đủ căn cứ để xác định vụ án như sau:
Bị cáo Lê Thị Vân Y và X đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt nhiều đoạn dây cáp điện (hàng thải loại) của Công ty Z trị giá 4.800.000 đồng. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Lê Thị Vân Y về tội “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo Lê Thị Vân Y, HĐXX thấy rằng: Cấp sơ thẩm đã xem xét toàn bộ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo Lê Thị Vân Y 04 tháng tù là phù hợp với các quy định của pháp luật. Do đó không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thị Vân Y.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thị Vân Y.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 54 của Bộ luật hình sự,
Xử phạt bị cáo Lê Thị Vân Y 04 (bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
2. Về án phí: Bị cáo Lê Thị Vân Y phải chịu 200.000đ án phí HSPT.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT1-TANDTC - VKSND tỉnh Bình Định; - CQHSNVCSCA tỉnh Bình Định; - TA, VKS, CQĐT CA Tp. Z; - Cơ quan THAHS Tp. Z; - Chi cục THADS Tp. Z; - Sở tư pháp tỉnh Bình Định, - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Bình |