vanban.org

Bản án 86/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị A được ly hôn anh Trần Ngọc T.

Về con chung: Giao con chung Trần Nhật A1, sinh ngày 05/08/2017 cho chị Trương Thị A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Trần Ngọc T, việc giao con chung cho chị Trương Thị A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng được thực hiện ể từ hi b… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị Trương Thị A và anh Trần Ngọc T."
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị A được ly hôn anh Trần Ngọc T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật tố tụng d n sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng d n sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲ HỢP
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2022/HNGĐ-ST
Ngày 21/7/2022
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP – TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hà Văn Đông

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Thanh.

2. Ông Lương Văn Công.

- Thư ký phiên toà: Bà Sầm Thị Thanh Sương - Thư T a án nh n d n huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hồng Lĩnh – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở T a án nh n dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công hai vụ án Hôn nh n và gia đình thụ l số: 66/2022/TLST – HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trƣơng Thị A, sinh năm 1999. Trú tại: Xóm M, xã H, huyện Q, tỉnh Nghệ An. (Có mặt)

2. Bị đơn: Anh Trần Ngọc T, sinh năm 1997. Nơi ĐKHKTT: Bản A, xã CQ, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Đang được tạm gửi tại Cơ sở cai nghiện ma túy số H tỉnh Nghệ An – xóm T, xã NY, huyện NL, tỉnh Nghệ An, trong thời gian chờ lập hồ sơ và bị xem xét áp dụng biện pháp xử l hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc”. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn hởi iện ngày 25/5/2022 và qua lời hai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên t a, nguyên đơn là chị Trương Thị A trình bày:

Chị Trương Thị A đăng

ết hôn với anh Trần Ngọc T vào ngày 19/12/2017 tại Ủy ban nh n d n xã CQ, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Hai vợ chồng

1

chung sống hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu nảy sinh m u thuẫn, nguyên nhân trong cuộc sống chung anh T hông tu chí làm ăn, chỉ ham chơi, đua đ i, tụ tập bạn bè, sa vào tệ nạn xã hội nghiện chất ma túy và bị đưa đi cai nghiện ma túy bắt buộc, ngoài ra trong cuộc sống thường ngày anh T c n có hành vi vũ phu đánh đập, chửi mắng chị nhiều lần, nhận thấy tình cảm giữa vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc và tương lai l u dài nên chị Trương Thị A kiên quyết giữ nguyên yêu cầu đề nghị giải quyết ly hôn đối với anh Trần Ngọc T.

Về con chung: Trong thời gian chung sống với nhau, hai vợ chồng có 01 người con chung tên là Trần Nhật A1, sinh ngày 05/8/2017. Bản thân anh T hiện đang bị xem xét đưa đi cai nghiện bắt buộc, hông đủ điều iện nuôi con, chị A đề nghị giao con chung cho chị trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng và không yêu cầu anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trương Thị A hông yêu cầu T a án giải quyết.

- Ý iến của bị đơn anh Trần Ngọc T trình bày trong bản tự hai, biên bản lấy lời hai như sau:

Giữa anh T và chị Trương Thị A tổ chức đăng

ết hôn với nhau vào ngày 19/12/2017 tại Ủy ban nh n dân xã CQ, huyện Q, tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyện. Trong thời gian sống chung giữa vợ chồng có xảy ra nhiều m u thuẫn, bất đồng quan điểm sống, hông có tiếng nói chung, cuộc sống gia đình hông có hạnh phúc, nguyên nh n do lỗi của anh T hông làm chủ được mình, dẫn đến nghiện chất ma túy, chị A hông chấp nhận tha thứ nên xin được giải quyết ly hôn, bản th n anh T thấy hông thể níu éo được tình cảm vợ chồng để đoàn tụ nên đồng ý giải quyết ly hôn với chị Trương Thị A.

Vợ chồng có 01 người con chung tên là Trần Nhật A1, sinh ngày 05/8/2017, do hiện tại anh T đang bị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc, nên khi giải quyết ly hôn anh T đồng giao con chung cho chị A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh T.

Đối với phần tài sản chung và nợ chung của vợ chồng, hai bên không có tranh chấp gì nên anh T không yêu cầu T a án giải quyết.

- Ý iến của đại diện Viện iểm sát nh n d n huyện Quỳ Hợp tại phiên t a:

Qua iểm sát giải quyết vụ án từ hi thụ l vụ án cho đến trước hi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên t a thấy rằng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư , nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng d n sự, quá trình hỏi và tranh luận tại phiên t a đã tu n thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng d n sự. Nguyên đơn có mặt tham gia giải quyết vụ việc theo giấy triệu tập, tu n thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng d n sự. Trong quá trình

2

giải quyết vụ án do bị đơn đang trong thời gian gửi chờ xem xét áp dụng biện pháp xử l hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc nên không chấp hành đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định, bị đơn có đơn xin được giải quyết vắng mặt, do đó cần xét xử vắng mặt đối với bị đơn.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 51; 56; 81; 82; 83 Luật Hôn nh n và gia đình; Điều 28; 35; 39; hoản 1 Điều 227 và hoản 1 Điều 228; hoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng d n sự; điểm a hoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí T a án, để xét xử.

Về quan hệ hôn nh n: Cần chấp nhận đơn hởi iện, cho chị Trương Thị A được ly hôn với anh Trần Ngọc T.

Giao con chung Trần Nhật A1, sinh ngày 05/8/2017 cho chị Trương Thị A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Trần Ngọc T, việc giao nuôi con được thực hiện ể từ tháng 8 năm 2022 trở đi cho đến lúc con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành, bên hông trực tiếp nuôi con có quyền thăm gặp con, hông ai được cản trở.

Giữa hai bên không có tranh chấp và yêu cầu T a án giải quyết về phần tài sản chung và nợ chung, nên đề nghị không xem xét giải quyết.

Buộc nguyên đơn phải chịu tiền án phí d n sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Nguyên đơn có mặt hông có iến tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau hi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên t a, căn cứ vào ết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Trương Thị A có đơn, yêu cầu giải quyết xin ly hôn đối với anh Trần Ngọc T, đề nghị giao con chung cho chị A được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, hông yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung và hông yêu cầu Tòa án giải quyết về phần tài sản chung của vợ chồng. Theo quy định tại hoản 1 Điều 51 luật Hôn nh n và gia đình và hoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng d n sự, quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Bị đơn anh Trần Ngọc T có nơi đăng hộ hẩu thường trú tại bản A, xã CQ, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của T a án nh n d n huyện Q, tỉnh Nghệ An theo quy định tại điểm a hoản 1 Điều 35; điểm a hoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng d n sự. Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ theo quy định, bị đơn hiện đang trong thời gian tạm gửi chờ để lập hồ sơ xem xét áp dụng biện pháp XLHC đưa vào

3

cơ sở cai nghiện bắt buộc, do đó vụ án thuộc trường hợp hông tiến hành h a giải được theo Điều 207 Bộ luật tố tụng d n sự. Bị đơn có đơn xin được giải quyết vắng mặt tại các buổi làm việc và phiên tòa của T a án, do đó cần áp dụng Điều 227 và 228 Bộ luật Tố tụng d n sự để xét xử vắng mặt đối với bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị A và anh Trần Ngọc T đăng

ết hôn vào ngày 19 tháng 12 năm 2017 tại U ban nh n d n xã CQ, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân giữa hai bên hoàn toàn tự nguyện, đảm bảo về điều kiện kết hôn và đăng đúng thủ tục quy định của pháp luật, nên quan hệ hôn nhân giữa hai bên là hợp pháp. Sau hi ết hôn chung sống một thời gian vợ chồng xảy ra nhiều m u thuẫn, bản th n anh T sa vào tệ nạn xã hội nghiện chất ma túy, chị Trương Thị A xác định cuộc sống chung của vợ chồng hông hạnh phúc, hông có tương lai l u dài. Trong quá trình giải quyết vụ án và xác minh tại địa phương về m u thuẫn vợ chồng cho thấy, giữa hai bên có nhiều m u thuẫn hông thể h a giải đoàn tụ được, quá trình lấy lời hai, cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị A giữ nguyên iến iên quyết xin được ly hôn đối với anh Trần Ngọc T và anh T có iến đồng giải quyết ly hôn với chị Trương Thị A. Xét thấy, m u thuẫn giữa vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung hông thể éo dài, mục đích của hôn nh n hông đạt được, vợ chồng có iến hông quay trở lại đoàn tụ với nhau. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thị A đối với anh Trần Ngọc T.

Về con chung: Qua xem xét tài liệu, chứng cứ do các đương sự cung cấp, xác minh về hoàn cảnh, môi trường sống và hả năng chăm sóc, nuôi dưỡng con, cũng như iến của các đương sự, xét thấy hiện tại anh T đang trong thời gian bị xem xét áp dụng biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc, con chung đang c n nhỏ cần sự gần gũi, chăm sóc, nuôi dưỡng của người mẹ nên xem xét giao con chung Trần Nhật A1, sinh ngày 08/5/2017 cho chị A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Trần Ngọc T là hợp tình, hợp l . Việc giao con chung cho chị A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cần được thực hiện ể từ hi bản án có hiệu lực pháp luật, cho đến lúc con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trương Thị A và anh Trần Ngọc T đều có iến thống nhất hông yêu cầu Toà án giải quyết, nên Hội đồng xét xử hông xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn chịu án phí d n sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

4

Căn cứ vào hoản 1 Điều 56; các điều 81; 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; hoản 1 Điều 227; hoản 1 Điều 228; hoản 4 Điều 147 BLTTDS; điểm a hoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí T a án, xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị A được ly hôn anh Trần Ngọc T.

2. Về con chung: Giao con chung Trần Nhật A1, sinh ngày 05/08/2017 cho chị Trương Thị A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Trần Ngọc T, việc giao con chung cho chị Trương Thị A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng được thực hiện ể từ hi bản án có hiệu lực pháp luật, cho đến lúc con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành.

Bên hông trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Trương Thị A chịu án phí d n sự sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được hấu trừ trong số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị A đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số: 0006866 ngày 06/6/2022 tại Chi cục thi hành án d n sự huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.

Án xử công hai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn.

Nguyên đơn có quyền háng cáo bản án trong hạn 15 ngày, ể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền háng cáo bản án trong hạn 15 ngày, ể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ