vanban.org

Bản án 86/2022/HC-PT — Hành chính

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 22/02/2023 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/02/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của ông NVX; giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm số 948/2022/HC-ST ngày 28/6/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố H.

Tuyên xử: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông NVX về việc yêu cầu Tòa án hủy các quyết định hành chính sau đây của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận TĐ (nay là Thành phố TĐ), Thành phố H và Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H, gồm: Quyết định số 6781/QĐ-XPVPHC ngày 08/11/2019 về xử phạt vi phạm hành …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Khiếu kiện quyết định hành chính"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của ông NVX; giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm số 948/2022/HC-ST ngày 28/6/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố H.
  • Căn cứ chính? Luật khiếu nại; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2022/HC-PT
Ngày: 22/02/2023
“V/v Khiếu kiện quyết định hành chính”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Tô Ngọc

Các Thẩm phán: Ông Phan Văn Yên

Ông Vũ Ngọc Huynh

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thành Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 527/2022/TLPT-HC ngày 03 tháng 10 năm 2022.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 948/2022/HC-ST ngày 28 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 112/2023/QĐPT-HC ngày 25 tháng 01 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Người khởi kiện: Ông NVX, sinh năm: 1958. (Có mặt)

Địa chỉ: Phường Linh Trung, Thành phố TĐ, Thành phố H

Người đại diện theo ủy quyền của ông NVX: Ông Bùi Văn Trường; Địa chỉ: Số 15, đường Phan Văn Năm, phường Phú Thạnh, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)

2. Người bị kiện:

2.1 Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố TĐ, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ: Số 168 Trương Văn Bang, phường TML, thành phố T Đ Thành phố H

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố TĐ, Thành phố H:

Ông Nguyễn Tấn Thành – Phó Trưởng phòng Quản lý đô thị - Đội trưởng Đội quản lý Trật tự Đô thị Thành phố TĐ. (Vắng mặt)

Ông Nguyễn Minh Vàng – Cán sự phòng Quản lý đô thị Thành phố TĐ. (Có mặt)

Ông Cù Duy Quang – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Linh Trung. (Có mặt)

2.2 Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H

Địa chỉ: Số 86, đường Lê Thánh Tôn, phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố H.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H:

Ông Nguyễn Văn Cầu – Phó Trưởng phòng Pháp chế Sở xây dựng. (Xin vắng mặt)

Địa chỉ: Số 60 đường Trương Định, phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Thành phố H.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ủy ban nhân dân phường Linh Trung, Thành phố TĐ

Địa chỉ: Số 1262, đường Kha Vạn Cân, phường Linh Trung, Thành phố TĐ, Thành phố H.

Người đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân phường Linh Trung, Thành phố TĐ: Ông Cù Duy Quang – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Linh Trung. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, ông NVX có ông Bùi Văn Trường đại diện trình bày:

Ông NVX có khu đất và căn nhà tọa lạc tại địa chỉ không số đường Lê Văn Chí, tổ 11, phường Linh Trung, quận TĐ (thuộc một phần thửa 30, tờ bản đồ số 15). Khu đất có diện tích khoảng 1026m2; căn nhà được xây dựng năm 2003. Nhìn từ hẻm đất đường Lê Văn Chí vào khu đất có 01 dãy nhà có chiều ngang: 30,5m, chiều dài: 5,0m và mái tôn: l,8m, chia thành 02 phần:

-Phần nhà thứ nhất (phía bên trái khu đất nhìn từ đường Lê Văn Chí vào): có cấu trúc: tường gạch, mái tôn, chiều ngang: 4m, chiều dài: 5m.

-Phần nhà thứ hai (phía bên phải khu đất nhìn từ đường Lê Văn Chí vào): có cấu trúc: mái tôn, vách tôn, chiều ngang: 26,5m; chiều dài: 5m;

Về nguồn gốc đất: Đất do bà Nguyễn Thị Liễu khai phá sử dụng từ năm 1972, bà Liễu kê khai nhà đất năm 1999, diện tích đất 3.800m2, diện tích nhà 24m2 (nhà xây dựng năm 1993). Sử dụng đến năm 2001, bà Liễu chuyển nhượng lại một phần diện tích cho ông Nguyễn Thể Vinh (giấy chuyển nhượng đất nông nghiệp tự lập ngày 01/02/2001), diện tích 1.026m2, ông Vinh sử dụng đến năm 2002 chuyển nhượng cho ông NVX.

Về nguồn gốc nhà: Tài liệu có các Biên bản vi phạm hành chính ngày 08/07/2003 và ngày 30/07/2003 do Phòng Quản lý Đô thị quận TĐ và Ủy ban nhân dân phường (UBND) Linh Trung, quận TĐ lập đối với NVX về hành vi xây dựng không phép. Diện tích vi phạm lần lượt là 58,5m2 và 102,45m2. Như vậy, đã có hiện trạng nhà trên đất vào thời điểm năm 2003 .

Năm 2015 ông X đã được UBND Thành phố H ban hành Quyết định 3886/QĐ-UBND ngày 08/8/2015 với nội dung xác nhận nguồn gốc khu đất và chỉ đạo UBND quận TĐ cấp giấy phép sửa chữa cho căn nhà trên có nội dung :“...Ủy ban nhân dân Phường thống nhất đơn sửa chữa một số nội dung như sau: Nâng nền 0,3m; Nâng mái 0,5m, thay tôn; Diện tích sửa chữa 164,95 m2: tựờng gạch mái tôn 20 m2; vách tôn cột sắt mái tôn 144,95 m2... ”

Ngày 16/05/2017, UBND phường Linh Trung, quận TĐ đã ban hành văn bản số 298/UBND cấp giấy phép sửa chữa.

Quá trình ban hành các biên bản vi phạm và quyết định xử phạt:

- Đối với công trình do ông Đinh Ngọc Kỷ xây dựng nhưng ông X lại bị UBND phường Linh Trung (gọi là Công trình 1)

Ngày 25/07/2017 UBND phường Linh Trung lập Biên bản số 33/BB-VPHC; ngày 17/08/2017 UBND quận TĐ ban hành Quyết định số 4957/QĐ-XPVPHC để xử phạt vi phạm hành chính của ông X.

Tuy nhiên, công trình vi phạm đó là do ông Đinh Ngọc Kỷ xây dựng sát phần đất được cấp phép xây dựng của ông X.

Đối với công trình do ông X xây dựng theo giấy phép sửa chữa 298/UBND ngày 16/05/2017 (gọi là Công trình 2)

Năm 2018, ông X đã thực hiện xong việc sửa chữa trên và đúng với những gì được phép làm, hiện trạng căn nhà sửa chữa hoàn toàn đúng với nội dung giấy phép sửa chữa. Tuy nhiên UBND phường Linh Trung lập Biên bản vi phạm hành chính với nội dung thi công không có giấy phép xây dựng. Ông X ghi rõ trong biên bản là căn nhà ông có từ năm 2003; không có xây dựng mới mà tiến hành sửa chữa đúng với những gì mà UBND phường Linh Trung đã cho phép ông xây dựng, sửa chữa, cải tạo công trình trên theo công văn số 298/UBND.

Ngày 22/10/2019 UBND phường Linh Trung lập Biên bản vi phạm hành chính số 110/BB-VPHC.

Ngày 08/11/2019 UBND quận TĐ ban hành Quyết định 6781/QĐ-XPVPHC. Không đồng ý nên ông tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch UBND quận TĐ.

Ngày 05/12/2019 Chủ tịch UBND quận TĐ ban hành Quyết định 7398/QĐ-CCXP.

Ngày 17/02/2020, Chủ tịch UBND quận TĐ ban hành Quyết định 626/QĐ-UBND giải quyết khiếu nại của ông X, nội dung: “Giữ nguyên Quyết định 6781/QĐ-XPVPHC; không công nhận toàn bộ khiếu nại..”

Không đồng ý nên ông X tiếp tục khiếu nại lần 2. Ngày 06/08/2020 Sở Xây dựng ban hành thông báo số 8899/TB-SXD-TT về thụ lý giải quyết khiếu nại lần 2. Khi ông làm việc tại Sở Xây Dựng thì biên bản ghi nhận ý kiến của ông lại bị sửa đổi.

Ngày 09/02/2021 UBND Thành phố H ban hành quyết định 492/QĐ-UBND giải quyết khiếu nại lần 2 với ông X, với nội dung giữ nguyên Quyết định 626/QĐ-UBND ngày 17/02/2020.

Căn cứ vào điểm d, khoản 2, Điều 89 Luật xây dựng quy định chung về cấp giấy phép xây dựng thì trường hợp của ông X được miễn giấy phép xây dựng.

Thực tế công trình của ông X nằm trong hẻm sâu không tiếp giáp với tuyến đường nào trong đô thị và việc sửa chữa nhà không thay đổi kết cấu chịu lực. Kết cấu không chịu lực là: Xây ngăn phòng, xây lại hộp gen, đập nhà vệ sinh cũ xây lại nhà vệ sinh mới, nâng nền, ốp lát gạch lại, lăn sơn nước, thay hệ thống ống nước, thay mới, sửa chữa hệ thống điện chiếu sáng; đóng thạch cao trần, ngăn phòng; Lắp vách nhôm kính, thay mái tole bị dột; Thay tole mới, ngói mới.

Qua diễn biến sự việc cho thấy, phần đất của ông X có nguồn gốc rõ ràng, được UBND Thành phố H xác nhận về nguồn gốc cũng như phần nhà đất đã được cấp phép sửa chữa, sau khi tiến hành sửa chữa đúng nội dung được sửa chữa thì 02 năm sau lại kết luận xây mới và ban hành quyết định xử phạt và cưỡng chế tháo dỡ nhà. Nay ông X yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 6781/QĐ-XPVPHC ngày 08/11/2019, Quyết định số 7398/QĐ-CCXP ngày 05/12/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố TĐ và Quyết định số 492/QĐ-UBND ngày 09/02/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H. Đồng thời xem xét hủy Quyết định số 626/QĐ-UBND ngày 17/02/2020 và Quyết định số 878/QĐ-UBND ngày 02/3/2020 của Chủ tịch UBND quận TĐ Người bị kiện Chủ tịch UBND TP.HCM vắng mặt. Tòa án công bố ý kiến của người bị kiện. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện ông Nguyễn Văn Cầu trình bày: Ngày l6/5/2017, UBND phường Linh Trung, quận TĐ có Công văn số 298/UBND về việc trả lời trường hợp đăng ký sửa chữa nhà ở của ông NVX, với nội dung:

“UBND phường thống nhất đơn sửa chữa một số nội dung như sau: Nâng nền 0,3m; Nâng mái 0,5m, thay tôn; Diện tích sửa chữa 164,95 m2.

+ Tường gạch mái tôn 20 m2.

+ Vách tôn cột sắt mái tôn 144,95 m2.

UBND phường Linh Trung đề nghị ông NVX thực hiện đúng nội dung sửa chữa đã được UBND Phường chấp thuận, không đồng ý cho xây mới, che dựng vách sát tường rào trại thực nghiệm, không làm mái tôn đổ nước vào trại thực nghiệm...”.

Ngày 22/10/2019, UBND phường Linh Trung kiểm tra, lập Biên bản số 110/BB-VPHC về vi phạm hành chính và yêu cầu ngừng thi công xây dựng công trình vi phạm đối với ông NVX, do xây dựng công trình không có giấy phép, mà theo quy định phải có giấy phép xây dựng. Hiện trạng công trình xây dựng vi phạm có diện tích (26,5m x 5m) = 132,5 m2; kết cấu: cột sắt, vách tôn, mái tôn.

Ngày 08/11/2019, Chủ tịch UBND quận TĐ ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 6781/QĐÐ-XPVPHC đối với ông X do xây dựng không có giấy phép, tại địa chỉ không số (thuộc một phần thửa đất số 30, tờ bản đồ số 15) Quốc lộ 1, khu phố 5, phường Linh Trung, quận TĐ, với nội dung: Phạt tiền với mức phạt: 25.000.000 đồng và buộc ông NVX phải tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng vi phạm tại không số (thuộc một phần thửa đất số 30, tờ bản đồ số 15) Quốc lộ l, khu phố 5, phường Linh Trung, quận TĐ, cụ thể: Tổng diện tích vi phạm: (26,5m x 5m) = 132,5 m2; Kết cấu: Cột sắt, vách tôn, mái tôn.”

-Không đồng ý với Quyết định số 6781/QĐ-XPVPHC ngày 08/11/2019 của Chủ tịch UBND quận TĐ, ông X có Đơn khiếu nại đối với quyết định trên.

Ngày 17/02/2020, Chủ tịch UBND quận TĐ ban hành Quyết định số 626/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông X, có nội dung: Giữ nguyên Quyết định số 6781/QĐ-XPVPHC ngày 08/11/2019 và không công nhận toàn bộ nội dung khiếu nại của ông NVX.

-Không đồng ý với Quyết định giải quyết khiếu nại số 626/QĐ-UBND ngày 17/02/2019 của Chủ tịch UBND quận TĐ, ông X có Đơn khiếu nại lần hai gửi Chủ tịch UBND Thành phố H.

Ngày 06/8/2020, Sở Xây dựng có Công văn số 8900/SXD-TT gửi UBND quận TĐ về việc cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc giải quyết đơn khiếu nại (lần đầu) của ông X.

Ngày 26/8/2020, Thanh tra Sở Xây dựng chủ trì, phối hợp với đại diện UBND quận TĐ, UBND phường Linh Trung, quận TĐ, Đội Thanh tra xây dựng địa bàn quận TĐ và Đội Quản lý trật tự đô thị quận TĐ tiến hành kiểm tra tại căn nhà không số, đường Lê Văn Chí, tổ 11, khu phố 5, phường Linh Trung, quận TĐ, thuộc một phần thửa 30, tờ bản đồ số 15, phường Linh Trung, quận TĐ (theo Giấy mời số 613/GM-TT-TCD&GQKNTC ngày 18/8/2020 của Thanh tra Sở Xây dựng) ghi nhận hiện trạng như sau:

“Trên thửa đất số 30, tờ bản đồ số 15, phường Linh Trung, quận TĐ có công trình xây dựng diện tích 26,3m x 5m = 132,5 m2; kết cấu cột sắt, vách tôn, mái tôn, nền gạch. Hiện ông X đang ở và cho thuê phòng trọ. Ông X có làm thêm gác sắt, ván ép và tấm cemboard diện tích 26,5m x 2,4m”

Đồng thời, tại buổi làm việc, ông NVX có ý kiến như sau:

“Hiện trạng tôi sửa chữa đúng theo Quyết định số 3886 /QĐ-UBND ngày 08 tháng 8 năm 2015 của Ủy ban nhân dân Thành phố và Công văn số 298/UBND ngày 16 tháng 5 năm 2017 của Ủy ban nhân dân phường Linh Trung, quận TĐ. Tôi không xây dựng mới, sửa chữa theo hiện trạng cũ.”

Ngày 18/9/2020, Thanh tra Sở Xây dựng có Công văn số 5964/TT-TCD&GQKNTC gửi UBND quận TĐ về việc cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc giải quyết đơn khiếu nại (lần đầu) của ông X.

Ngày 21/9/2020, UBND quận TĐ có Công văn số 4728/UBND-QLĐT về việc cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến vụ việc khiếu nại của ông X, nhận định việc UBND quận TĐ ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 6781/QĐXPVPHC ngày 08/11/2019 về xử phạt vi phạm hành chính đối với ông X và việc thụ lý, ban hành Quyết định số 626/QĐ-UBND ngày 17/02/2020 về việc giải quyết khiếu nại của ông NVX (lần đầu), là đúng quy định pháp luật.

Ngày 23/10/2020, Sở Xây dựng đã chủ trì, phối hợp với UBND quận TĐ, UBND phường Linh Trung, quận TĐ, tổ chức đối thoại giải quyết khiếu nại với ông X (theo Giấy mời số 1076/GM-SXD-VP ngày 20/10/2020 của Sở Xây dựng).

Ngày 16/11/2020, Sở Xây dựng có Báo cáo số 13200/BCSXD-TT báo cáo kết quả kiểm tra, xác minh nội dung khiếu nại của ông X, cư trú tại số 01B đường số 16, tổ 11, khu phố 1, phường Linh Trung, Thành phố TĐ.

Ngày 09/12/2021, Chủ tịch UBND Thành phố H ban hành Quyết định số 492/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại (lần hai) của ông NVX, với nội dung: Công nhận và giữ nguyên Quyết định 626/QĐ-UBND ngày 17/02/2020 của UBND quận TĐ về việc giải quyết khiếu nại của ông NVX (lần đầu), là đúng quy định pháp luật.

Theo Công văn số 2153/UBND-QLĐT ngày 26/5/2020 của UBND quận TĐ về việc xử lý khiếu nại của ông NVX.

Hình ảnh chụp thực tế vào tháng 10/2019 do UBND phường Linh Trung, quận TĐ cung cấp bổ sung cho Thanh tra Sở Xây dựng theo Biên bản làm việc ngày 26/8/2020 thể hiện phần hiện trạng công trình cũ, ông NVX đã tiến hành tháo dỡ hoàn toàn, thực hiện không đúng nội dung đăng ký sửa chữa của UBND phường Linh Trung, quận TĐ.

Căn cứ Khoản 1 Điều 89 Luật Xây dựng năm 2014. Qua kiểm tra hiện trạng thực tế, xác minh nội dung vụ việc, nhận thấy việc ông NVX đã tiến hành tháo dỡ hiện trạng cũ và tiến hành xây dựng mới, không đúng theo nội dung đăng ký sửa chữa, cải tạo tại UBND phường Linh Trung, quận TĐ, là hành vi vi phạm trật tự xây dựng (thuộc trường hợp phải xin Giấy phép xây dựng theo quy định tại khoản 2 Điều 89 Luật Xây dựng năm 2014). Do đó, việc ông X cho rằng mình không tổ chức thi công xây dựng mới, chỉ sửa chữa theo hiện trạng cũ phù hợp với nội dung tại Công văn số 298/UBND ngày 16/5/2017 của UBND phường Linh Trung, quận TĐ, là không đúng.

Mặt khác, tại Công văn số 2153/UBND-QLĐT ngày 26/5/2020 của UBND quận TĐ về việc xử lý khiếu nại của ông NVX, có nội dung cho biết vị trí khu đất của ông NVX thuộc hoàn toàn vi phạm quy hoạch đất cây xanh, công viên, thể dục thể thao xây dựng mới theo Đồ án điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng quận TĐ được duyệt theo Quyết định số 5759/QĐ-UBND ngày 12/11/2012 của UBND Thành phố H; trên thửa đất chưa có giấy tờ hợp lệ về quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật đất đai, (không xác định được cơ sở pháp lý quyền sử dụng đất) do đó không đủ điều kiện để cấp giấy phép xây dựng theo quy định.

Việc UBND phường Linh Trung, quận TĐ lập Biên bản vi phạm hành chính đối với hành vi xây dựng không phép là căn cứ quy định tại điểm b khoản 5 Điều 15 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP ngày 27/11/2017 của Chính phủ, được áp dụng theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và văn bản quy phạm pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng; thẩm quyền xử phạt áp dụng theo quy định tại khoản 2 Điều 38 Luật Xử lý vi phạm hành chính và Điều 77 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP ngày 27/11/2017 của Chính phủ.

Việc UBND quận TĐ áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại điểm d khoản 11 Điều 15 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP ngày 27/11/2017 của Chính phủ buộc ông NVX tháo dỡ phần công trình xây dựng vi phạm mà không áp dụng theo quy định tại điểm a khoản 12 Điều 15 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP về việc cho thời hạn 60 ngày kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm phải làm thủ tục đề nghị cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh hoặc cấp giấy phép xây dựng, là phù hợp quy định.

Việc Chủ tịch UBND quận TĐ ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 6781/QĐÐXPVPHC ngày 08/11/2019 đối với hành vi tổ chức thi công xây dựng công trình không có giấy phép xây dựng mà theo quy định phải có giấy phép xây dựng theo điểm b khoản 5 Điều 15 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP ngày 27/11/2017 của Chính phủ, là phù hợp theo quy định pháp luật.

Từ những cơ sở pháp luật nêu trên, Chủ tịch UBND Thành phố H nhận thấy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính của UBND quận TĐ đối với ông X là đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền và nội dung theo quy định của pháp luật. Do đó, việc Chủ tịch UBND quận TĐ ban hành Quyết định số 6781/QĐ-XPVPHC ngày 08/11/2019 và Quyết định số 626/QĐ-UBND ngày 17/02/2020 của UBND quận TĐ là đúng quy định. Việc ông X khiếu nại là không có cơ sở.

Từ các nội dung trên, Chủ tịch UBND Thành phố H đề nghị Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân Thành phố H giữ nguyên Quyết định số 492/QĐ-UBND ngày 09/02/2021 về việc giải quyết khiếu nại (lần hai) của ông NVX, không chấp nhận (bác) toàn bộ yêu cầu của NVX.

Người bị kiện Chủ tịch UBND Thành phố TĐ vắng mặt. Tòa án công bố ý kiến của người bị kiện. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện ông Nguyễn Minh Vàng trình bày:

Ngày 22/10/2019, UBND phường Linh Trung lập Biên bản vi phạm hành chính về hoạt động xây dựng (công trình đã kết thúc thi công xây dựng) số 110/BB-VPHC đối với ông NVX do có hành vi tổ chức thi công xây dựng công trình không có giấy phép xây dựng mà theo quy định phải có giấy phép xây dựng, cụ thể: “Diện tích vi phạm: 26,5m x 5m = 132,5m2, kết cấu: Cột sắt, vách tôn, mái tôn. Thời điểm vi phạm xây dựng: Tháng 10 năm 2019”, quy định tại điểm b, khoản 5, Điều 15 của Nghị định số 139/2017/NĐ-CP ngày 27/11/2017 của Chính phủ. Ngày 08/11/2019, UBND quận TĐ ban hành Quyết định số 6781/QĐ-XPVPHC xử phạt vi phạm hành chính đối với ông NVX.

Tuy nhiên, ông X không chấp hành nội dung quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Do đó, ngày 05/12/2019, Chủ tịch UBND quận TĐ (nay là Thành phố TĐ) ban hành Quyết định số 7398/QĐ-CCXP về cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông NVX. Không đồng ý với các quyết định nêu trên, ông X đã có đơn khiếu nại gửi đến UBND quận TĐ.

UBND quận TĐ đã thụ lý và ban hành Quyết định về việc giải quyết khiếu nại số 626/QĐ-UBND ngày 17/02/2020 nội dung: Giữ nguyên Quyết định số 6781/QĐ-XPVPIHC ngày 08/11/2019 của Chủ tịch UBND quận TĐ, không công nhận toàn bộ nội dung khiếu nại của ông X và Quyết định số 878/QĐ-UBND ngày 02/03/2020 có nội dung: Giữ nguyên Quyết định số 7398/QĐ-CCXP ngày 05/12/2019 và không công nhận toàn bộ nội dung khiếu nại của ông X. Việc UBND quận TĐ ban hành Quyết định số 6781/QĐ-XPVPHC ngày 08/11/2019 về xử phạt vi phạm hành chính và Quyết định số 7398/QĐ-CCXP ngày 05/12/2019 về cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông NVX là đúng quy định pháp luật.

Do đó, Chủ tịch UBND Thành phố TĐ giữ nguyên quan điểm tại các quyết định nêu trên. Kính đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố H và Hội đồng xét xử xem xét bác đơn khởi kiện của ông NVX.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND phường Linh Trung có người đại diện theo ủy quyền là ông Cù Duy Quang trình bày:

Ngày 03/5/2017, ông X có làm đơn đề nghị sửa chữa nhà ở gửi đến UBND phường Linh Trung.

Ngày 16/5/2017, UBND phường Linh Trung ban hành Văn bản số 298/UBND trả lời trường hợp đăng ký sửa chữa nhà ở của ông NVX.

Sau khi UBND phường Linh Trung ban hành Văn bản số 298/UBND ngày 16/5/2017, ông X không chấp hành thực hiện theo nội dung Văn bản số 298/UBND. Cụ thể, ông X đã tiến hành tháo dỡ toàn bộ hiện trạng công trình cũ và xây dựng mới công trình trên khu đất.

Ngày 22/10/2019, UBND phường Linh Trung lập Biên bản vi phạm hành chính về hoạt động xây dựng (công trình đã kết thúc thi công xây dựng) số 110/BB-VPHC đối với ông NVX do có hành vi tổ chức thi công xây dựng công trình không có giấy phép xây dựng mà theo quy định phải có giấy phép xây dựng, cụ thể: “Diện tích vi phạm: 26,5m x 5m = 132,5m2, kết cấu: Cột sắt, vách tôn, mái tôn. Thời điểm vi phạm xây dựng: Tháng 10 năm 2019”, quy định tại điểm b, khoản 5, Điều 15 của Nghị định số 139/2017/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2017 của Chính phủ.

Ngày 08/11/2019, Chủ tịch UBND quận TĐ ban hành Quyết định số 6781/QĐ-XPVPHC xử phạt vi phạm hành chính đối với ông NVX.

Do ông NVX không chấp hành theo nội dung Quyết định số 6781/QĐ-XPVPHC nên căn cứ Khoản 3 Điều 5 Thông tư 03/2018/TT-BXD ngày 24/4/2018, Chủ tịch UBND quận TĐ ban hành Quyết định số 7398/QĐ- CCXP ngày 05/12/2019 về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông X.

Ngày 03/02/2020, UBND quận TĐ ban hành thông báo số 62/TB-UBND về việc thực hiện cưỡng chế tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng vi phạm đối với ông X.

Ngày 02/6/2020, UBND phường Linh Trung ban hành Văn bản số 361/UBND về việc xin ý kiến thẩm định về 06 hồ sơ phương án tháo dỡ của UBND phường Linh Trung.

Ngày 10/6/2020, UBND quận TĐ ban hành Quyết định số 3807/QĐ-UBND về phê duyệt phương án tháo dỡ công trình, bộ phận công trình vi phạm trật tự xây dựng tại không số (thuộc một phần thửa đất số 30, tờ bản đồ số 15), Quốc lộ 1, khu phố 5, phường Linh Trung, quận TĐ.

Ngày 12/4/2021, UBND phường Linh Trung ban hành Thông báo số 72/TB-UBND về cưỡng chế tháo dỡ công trình vi phạm trật tự xây dựng đô thị của ông X.

Ngày 23/4/2021 UBND phường Linh Trung tổ chức thực hiện cưỡng chế công trình vi phạm trật tự xây dựng của ông X do ông X không chấp hành tự tháo dỡ theo nội dung Quyết định số 7398/QĐ-CCXP ngày 05/12/2019 của UBND quận TĐ.

Việc Chủ tịch UBND quận TĐ ban hành Quyết định số 6781/QĐ-XPVPHC ngày 08/11/2019 về xử phạt vi phạm hành chính và Quyết định số 7398/QĐ-CCXP ngày 05/12/2019 về cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông NguyễnVăn Xương là đúng quy định pháp luật. Trong quá trình tổ chức thực hiện, UBND phường Linh Trung đã thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật về xây dựng trước khi cưỡng chế phá dỡ công trình vi phạm của ông X.

Do đó, UBND phường Linh Trung giữ nguyên quan điểm xử lý và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bác đơn khởi kiện của ông X.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 948/2022/HC-ST ngày 28 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân Thành phố H đã quyết định:

Căn cứ Luật Tố tụng hành chính; Luật Xây dựng năm 2014; Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Luật Tổ chức chính quyền địa phương; Luật khiếu nại năm 2011; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Nghị định số 139/2017/NĐ-CP ngày 27/11/2017 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng; khai thác, chế biến, kinh doanh khoáng sản làm vật liệu xây dựng, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; kinh doanh bất động sản, phát triển nhà ở, quản lý sử dụng nhà và công sở.

Tuyên xử:

1. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông NVX có ông Bùi Văn Trường đại diện về việc yêu cầu Tòa án hủy các quyết định hành chính sau đây của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận TĐ (nay là Thành phố TĐ), Thành phố H và Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H, gồm:

- Quyết định số 6781/QĐ-XPVPHC ngày 08/11/2019 về xử phạt vi phạm hành chính đối với ông NVX của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận TĐ, Thành phố H;

- Quyết định về việc giải quyết khiếu nại số 626/QĐ-UBND ngày 17/02/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận TĐ, Thành phố H;

- Quyết định số 492/QĐ-UBND ngày 09/02/2021 về việc giải quyết khiếu nại (lần hai) của ông NVX của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H;

-Quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả số 7398/QĐ-CCXP ngày 05/12/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận TĐ, Thành phố H;

- Quyết định số 878/QĐ-UBND ngày 02/03/2020 Về giải quyết khiếu nại của ông NVX của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận TĐ, Thành phố H.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo.

Ngày 06/7/2022 ông NVX có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm đề nghị sửa án sơ thẩm và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Ông NVX và đại diện theo ủy quyền là ông Bùi Văn Trường trình bày: Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, yêu cầu khởi kiện. Ngày 03/5/2017 ông X có đơn xin phép sửa chữa nhà, ngày 16/5/2017 UBND phường Linh Trung có văn bản đồng ý cho ông X nâng nền, sửa chữ nhà với diện tích 164,95 m2. Năm 2018 ông X đã tiến hành sửa chữa theo đúng văn bản cho phép của phường, hiện trạng căn nhà sửa chữa hoàn toàn đúng với nội dung giấy phép sửa chữa. Tuy nhiên, ngày 22/10/2019UBND phường Linh Trung lập Biên bản vi phạm hành chính với nội dung thi công không có giấy phép xây dựng. Ông X ghi rõ trong biên bản là căn nhà ông có từ năm 2003; không có xây dựng mới mà tiến hành sửa chữa đúng với những gì mà UBND phường Linh Trung đã cho phép ông xây dựng, sửa chữa, cải tạo công trình trên theo công văn số 298/UBND. Ngày 08/11/2019 UBND quận TĐ ban hành Quyết định 6781/QĐ-XPVPHC. Không đồng ý nên ông tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch UBND quận TĐ.

Ngày 05/12/2019 Chủ tịch UBND quận TĐ ban hành Quyết định 7398/QĐ-CCXP.

Ngày 17/02/2020, Chủ tịch UBND quận TĐ ban hành Quyết định 626/QĐ-UBND giải quyết khiếu nại của ông X, nội dung: “Giữ nguyên Quyết định 6781/QĐ-XPVPHC; không công nhận toàn bộ khiếu nại..”

Không đồng ý nên ông X tiếp tục khiếu nại lần 2. Ngày 06/08/2020 Sở Xây dựng ban hành thông báo số 8899/TB-SXD-TT về thụ lý giải quyết khiếu nại lần 2. Khi ông làm việc tại Sở Xây Dựng thì biên bản ghi nhận ý kiến của ông lại bị sửa đổi.

Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, yêu cầu khởi kiện. Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Chủ tịch UBND Thành phố TĐ: UBND phường Linh Trung có văn bản số 298/UBND thống nhất việc ông X được nâng nền, nâng mái thay tôn với diện tích sửa chữa là 164,95 m2. Tuy nhiên ông X đã tháo dỡ căn nhà cũ, xây dựng mới toàn bộ . Viêc xây dựng công trình không có giấy phép là vi phạm trật tự xây dựng. UBND phường lập biên bản vi phạm hành chính, ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, Quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả là đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền. Quyết định giải quyết khiếu nại cũng phù hợp quy định pháp luật. Đề nghị bác kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tham gia phiên toà phát biểu: Về tố tụng: Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục theo quy định của Luật Tố tụng hành chính. Các đương sự đã được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật Tố tụng hành chính. Đơn kháng cáo của ông NVX làm trong hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung: Tại văn bản số 298/UBND thống nhất việc ông X được sửa chữa nhà. Tuy nhiên căn cứ biên bản vi phạm hành chính, biên bản xác minh, đủ cơ sở xác định ông X đã tháo dỡ toàn bộ ngôi nhà cũ, xây mới. Vì vậy Chủ tịch UBND quuận Thủ Đức (nay là Thành phố TĐ) căn cứ biên bản vi phạm, ban hành Quyết định xử phạt, Quyết định cưỡng chế là đúng quy định pháp luật. các Quyết định giải quyết khiếu nại cũng được ban hành đúng trình tự, thủ tục. Tại cấp phúc thẩm, người kháng cáo không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì mới. Đề nghị bác kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài tiệu có trong hồ sơ vụ ánđã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luân tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về tố tụng: người đại diện hợp pháp của người bị kiện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử vắng mặt người bị kiện, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người bị kiện, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 157, Điều 158 Luật Tố tụng hành chính.

2. Về hình thức: đơn kháng cáo của ông NVX làm trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

3. Về nội dung: Xét kháng cáo của người khởi kiện ông NVX, Hội đồng xét xử có nhận định như sau:

Ông NVX kháng cáo đề nghị sửa án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông về việc hủy các Quyết định số 6781/QĐ-XPVPHC ngày 08/11/2019, Quyết định số 7398/QĐ-CCXP ngày 05/12/2019 của Chủ tịch UBND quận TĐ, Quyết định số 626/QĐ-UBND ngày 17/02/2020, Quyết định số 878/QĐ-UBND ngày 02/3/2020 của Chủ tịch UBND quận TĐ và Quyết định số 492/QĐ-UBND ngày 09/02/2021 của Chủ tịch UBND Thành phố H.

Đối với Quyết định số 6781/QĐ-XPVPHC ngày 08/11/2019: Căn cứ biên bản vi phạm hành chính số 110/BB-VPHC ngày 22/10/2019, bản đồ hiện trạng vị trí lập ngày 12/12/2016, biên bản kiểm tra hiện trạng ngày 25/7/2017, đủ cơ sở xác định ông NVX có hành vi tháo dỡ toàn bộ căn nhà cũ, xây dựng mới, không đúng với diện tích, kết cấu hiện trạng căn nhà cũ, không đúng văn bản chấp thuận cho sửa chữa, nâng nền số 298/UBND của Ủy ban nhân dân phường Linh Trung. Tại Biên bản kiểm tra hiện trạng ngày 23/4/2021 do UBND phường Linh Trung lập cũng ghi nhận ông NVX có làm thêm gác sắt , kết cấu ván ép và tấm cemboard...Tại biên bản đối thoại ngày 23/10/2020, ông X cũng thừa nhận “tôi đã tháo dỡ và thay đổi kết cấu…”. Việc UBND phường Linh Trung lập biên bản vi phạm hành chính là đúng với thực tế, đúng hành vi vi phạm. Việc Chủ tịch UBND quận ban hành Quyết định xử phtj là đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục.

Đối với Quyết định số 7398/QĐ-CCXP ngày 05/12/2019 của Chủ tịch UBND quận TĐ: Do ông NVX không chấp hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Chủ tịch UBND quận TĐ ban hành Quyết định cưỡng chế là phù hợp quy định pháp luật.

Đối với Quyết định số 878/QĐ-UBND ngày 02/3/2020 của Chủ tịch UBND quận TĐ và Quyết định số 492/QĐ-UBND ngày 09/02/2021 của Chủ tịch UBND Thành phố H: Các quyết định giải quyết khiếu nại được ban hành đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Luật khiếu nại.

Tại cấp phúc thẩm, người kháng cáo không nêu được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo, các kháng cáo đều khôg có cơ sở, không được chấp nhận.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát Nhân dân Cấp cao tham dự phiên tòa phù hợp với nhận đinh của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Ông NVX là người cao tuổi nên được miễn án phí.

Các phần khác của bản án sơ thẩm, không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính năm 2015;

1. Không chấp nhận kháng cáo của ông NVX; giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm số 948/2022/HC-ST ngày 28/6/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố H.

Căn cứ Luật Tố tụng hành chính; Luật Xây dựng năm 2014; Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Luật Tổ chức chính quyền địa phương; Luật khiếu nại năm 2011; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Nghị định số 139/2017/NĐ-CP ngày 27/11/2017 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng; khai thác, chế biến, kinh doanh khoáng sản làm vật liệu xây dựng, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; kinh doanh bất động sản, phát triển nhà ở, quản lý sử dụng nhà và công sở.

Tuyên xử: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông NVX về việc yêu cầu Tòa án hủy các quyết định hành chính sau đây của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận TĐ (nay là Thành phố TĐ), Thành phố H và Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H, gồm:

- Quyết định số 6781/QĐ-XPVPHC ngày 08/11/2019 về xử phạt vi phạm hành chính đối với ông NVX của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận TĐ, Thành phố H;

- Quyết định về việc giải quyết khiếu nại số 626/QĐ-UBND ngày 17/02/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận TĐ, Thành phố H;

- Quyết định số 492/QĐ-UBND ngày 09/02/2021 về việc giải quyết khiếu nại (lần hai) của ông NVX của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H;

- Quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả số 7398/QĐ-CCXP ngày 05/12/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận TĐ, Thành phố H;

- Quyết định số 878/QĐ-UBND ngày 02/03/2020 Về giải quyết khiếu nại của ông NVX của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận TĐ, Thành phố H.

2. Về án phí hành chính sơ thẩm, phúc thẩm: Miễn án phí hành chính sơ thẩm, phúc thẩm cho ông NVX.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ