vanban.org

Bản án 86/2022/DSPT — Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Bình Thuận Tuyên án 01/08/2022 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 01/08/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nh n yêu cầu kháng cáo của ông Phan N và bà Nguyễn Thị Phi Y, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2019/DS-ST ngày 28/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện T.

Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Chấp nh n một phần yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn, ông Phan N và bà Nguyễn Thị Phi Y. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất"
  • Tòa quyết gì? Chấp nh n yêu cầu kháng cáo của ông Phan N và bà Nguyễn Thị Phi Y, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2019/DS-ST ngày 28/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện T.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2022/DS-PT
Ngày: 01/8/2022
V/v: Tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử
dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NH N D N TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Hòa

Các Thẩm phán:

Ông Trần Phước Hiệu

Ông Nguyễn Văn Thành

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân t nh B nh Thu n.

- i di n i n i m t nh n d n t nh nh Th ận tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Phương Linh - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 29 tháng 7 và ngày 01 tháng 8 năm 2022, t i trụ s Tòa án nhân dân t nh B nh Thu n ét ử ph c thẩm công khai vụ án dân sự ph c thẩm thụ lý số 83/2019/TLPT-DS ngày 13 tháng 8 năm 2019, về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2019/DS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện T bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra ét ử ph c thẩm số 89/2022/QĐ-PT ngày 08 tháng 07 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 55/2022/QĐ-PT ngày 22 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:

- Ng yên đơn: Ông Phan N, sinh năm: 1965 và bà Nguyễn Thị Phi Y, sinh năm 1969; Địa ch : Thôn 6, ã N, huyện T, t nh B nh Thu n.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Trần N, sinh năm 1981. Địa ch : Số 558B đường C, thị trấn V, huyện Đ, t nh B nh Thu n (có mặt).

- ị đơn: Ông Phạm Thanh H, sinh năm: 1953 và bà Lê Thị H1, sinh năm 1955; Địa ch : Thôn 1, ã N, huyện T, t nh B nh Thu n.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 1970. Địa ch :, 683 A, phường T, qu n T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

- Người có q yền lợi, nghĩa vụ liên q an:

1/ Bà Ph m Thị N, sinh năm 1978 và ông P, sinh năm 1976. Địa ch : Số 361/111 Nguyễn Thị P, ã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

2/ Bà Ph m Thị Thanh T, sinh năm 1982;

3/ Bà Ph m Thanh Kim C, sinh năm 1984;

4/ Bà Ph m Thị Thanh T, sinh năm 1986;

5/ Ông Ph m Thanh Anh T, sinh năm 1988;

6/ Ông Ph m Thanh Anh V, sinh năm 1992;

7/ Bà Ph m Thị Mỹ L, sinh năm 1996;

Cùng nơi cư tr : Thôn 1, ã N, huyện T, t nh B nh Thu n.

(Đều có văn bản đề nghị ét ử vắng mặt)

Người kháng cáo: Ông Phan N và bà Nguyễn Thị Phi Y.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm th nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyên đơn – vợ chồng ông Phan N và bà Nguyễn Thị Phi Y đều yêu cầu:

Theo đơn kh i kiện ban đầu, vợ chồng ông N, bà Y yêu cầu Tòa án tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 98 đã được vợ chồng ông N, bà Y ký với vợ chồng ông H, bà H. Đồng thời buộc vợ chồng ông H, bà H phải trả l i cho vợ chồng ông N, bà Y số tiền 600.000.000 đồng, trong đó có 300.000.000 đồng tiền nh n chuyển nhượng đất và 300.000.000 đồng tiền ph t vi ph m. Trong quá tr nh giải quyết vụ án cũng như t i phiên tòa, vợ chồng ông N, bà Y thay đổi yêu cầu so với nội dung kh i kiện ban đầu. Vợ chồng ông N, bà Y cùng yêu cầu buộc vợ chồng ông H phải tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng đất đã ký kết, giao cho vợ chồng ông N, bà Y diện tích 1.818m2 đất t i thửa đất số 183 và 32, tờ bản đồ số 15, xã N theo nội dung hợp đồng chuyển nhượng số 98 mà hai bên đã ký kết, được UBND ã N chứng thực ngày 28/7/2017 và phải trả l i cho vợ chồng ông N, bà Y số tiền 150.000.000 đồng kèm tiền lãi phát sinh theo quy định của pháp lu t, tính từ ngày hai bên ký kết hợp đồng chuyển nhượng, trên số tiền gốc 150.000.000 đồng. Riêng về chi phí t m ứng cho việc thẩm định, đo đ c và định giá th vợ chồng ông N, bà Y yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp lu t. Ngoài ra vợ chồng ông N, bà Y không yêu cầu g thêm.

Căn cứ kh i kiện: Vào năm 2017, do có người quen giới thiệu nên vợ chồng ông N, bà Y hỏi để nh n sang nhượng lô đất có mặt tiền giáp đường ĐT717 đo n qua thôn 7, xã N của vợ chồng ông Phan T, bà Ph m Thị N. Hai bên thỏa thu n chuyển nhượng toàn bộ khu đất diện tích 4.386m2 với giá là 560.000.000 đồng. Tuy nhiên, diện tích đất này đang do ông Ph m Thanh H đứng tên trong giấy chứng nh n quyền sử dụng nên vợ chồng ông N, bà Y cùng đến nhà ông H để thỏa thu n, nhờ ông H đứng ra l p thủ tục. Vào ngày 04/6/2017, ông H viết “Đơn in chuyển quyền sử dụng đất” thể hiện nội dung gia đ nh ông H đồng ý sang nhượng cho vợ chồng ông N, bà Y diện tích 4.386m2 đất t i khu vực thôn 7, ã N với giá 560.000.000 đồng; bên nh n sang nhượng giao trước 300.000.000 đồng, còn l i sau khi ký kết hợp đồng chuyển nhượng t i UBND ã N sẽ giao thêm 200.000.000 đồng và sau khi hoàn thành thủ tục chuyển nhượng, ra giấy chứng nh n quyền sử dụng cho vợ chồng ông N th sẽ giao đủ số tiền 60.000.000 đồng. Hai bên cùng ký vào giấy viết tay do ông H l p và vợ chồng ông N, bà Y giao trước 300.000.000 đồng cho ông H như thỏa thu n. Ông H chịu trách nhiệm liên hệ chính quyền để làm thủ tục sang nhượng và có mượn trước của vợ chồng ông N 40.000.000 đồng để trả ngân hàng lấy giấy chứng nh n quyền sử dụng đất về làm thủ tục sang nhượng. Khoảng tháng 7/2017 vợ chồng ông N, bà Y đến UBND xã N để ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng không đọc nội dung hợp đồng. Sau khi hai bên ký ong hợp đồng t i UBND ã N th vợ chồng ông N, bà Y mang số tiền 160.000.000 đồng đến để giao cho ông H, cộng với số tiền 40.000.000 đồng ông H nh n trước đó là đủ 200.000.000 đồng, nhưng ông H không đồng ý nh n; ua đuổi vợ chồng ông N, bà Y và nói không chuyển nhượng đất đai cho vợ chồng ông N, bà Y nữa nên vợ chồng ông N, bà Y mới kh i kiện t i Tòa án. Khi đi kh i kiện th vợ chồng ông N, bà Y mới biết nội dung hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 98 mà hay bên đã ký, được UBND ã N chứng thực ngày 28/7/2017 ch thể hiện diện tích chuyển nhượng là 1.818m2 và số tiền nh n chuyển nhượng ch là 150.000.000 đồng.

Chứng cứ vợ chồng ông N, bà Y cung cấp để chứng minh: Bản sao hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bản sao chứng minh nhân dân của ông N và bà Y, 02 giấy chứng nh n quyền sử dụng đất mang tên ông H (phô tô), đơn in chuyển quyền sử dụng đất (phô tô), tờ khai thuế thu nh p cá nhân, tờ khai lệ phí trước b nhà đất, văn bản giải tr nh và yêu cầu t i buổi làm việc trực tiếp với Tòa án ngày 29/8/2018, đơn in thay đổi nội dung yêu cầu kh i kiện ngày 06/7/2018, đơn kiến nghị đưa vụ án ra ét ử và bản tự khai.

Bị đơn - ông Phạm Thanh H và bà Lê Thị H1 đều trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Ông H, bà H1 không đồng ý với yêu cầu kh i kiện của vợ chồng ông N, bà Y. B i v : Năm 2005, gia đ nh ông H nh n chuyển nhượng quyền sử dụng đất của người khác t i thôn 7, ã N với diện tích là 1.818m2 đất, t i thửa đất số 183 và 32, tờ bản đồ số 15 xã N. Quá tr nh canh tác th gia đ nh ông H có cải t o, khai phá thêm về hướng ven suối diện tích khoảng hơn 2.000m2, tổng diện tích khoảng hơn 4.000m2. Sau đó ông H có thỏa thu n sang nhượng toàn bộ diện tích đất này cho vợ chồng người em họ là bà Ph m Thị N, ông Phan T. Tuy nhiên, vợ chồng bà N, ông T làm ăn, sinh sống t i thành phố, chưa có nhu cầu sử dụng đất nên chưa làm thủ tục chuyển quyền sang tên mà vẫn để ông H đứng tên trong giấy chứng nh n quyền sử dụng đất. Vào năm 2017 vợ chồng ông N, bà Y muốn nh n sang nhượng diện tích đất này nên thỏa thu n với vợ chồng bà N, ông T. Vợ chồng bà N, ông T điện tho i cho ông H nhờ đứng ra làm thủ tục sang nhượng với vợ chồng ông N, bà Y thì ông H đồng ý. Ngày 04/6/2017 ông H viết “Đơn in chuyển quyền sử dụng đất” thể hiện nội dung gia đ nh ông H đồng ý sang nhượng cho vợ chồng ông N, bà Y diện tích 4.386m2 đất t i khu vực thôn 7, xã N với giá 560.000.000 đồng, bên nh n sang nhượng giao trước 300.000.000 đồng; còn l i sau khi ký kết hợp đồng chuyển nhượng t i UBND ã N sẽ giao thêm 200.000.000 đồng và sau khi hoàn thành thủ tục chuyển nhượng, ra giấy chứng nh n quyền sử dụng cho bên mua sẽ giao đủ số tiền 60.000.000 đồng. Hai bên cùng ký vào giấy viết tay do ông H l p nhưng số tiền thỏa thu n 300.000.000 đồng giao trước th ông H không nh n mà vợ chồng ông N, bà Y giao cho ông T. Sau đó ông H đến UBND ã N làm thủ tục chuyển nhượng và cả hộ gia đ nh ông H có ký vào hợp đồng so n sẵn nhưng không đọc nội dung mà ch nghĩ làm thủ tục để nhanh chóng hoàn tất và giao đất, ra sổ đỏ cho vợ chồng ông N, bà Y. Tuy nhiên, sau khi nh n l i hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ UBND ã th vợ chồng ông N, bà Y không thực hiện việc giao tiền như thỏa thu n mà kéo dài. Ông H nghĩ đã hoàn thành thủ tục nhưng thực tế gia đ nh ông H chưa nh n được bất kỳ khoản tiền nào từ vợ chồng ông N, bà Y nên vợ chồng ông H không tiếp tục nộp hồ sơ và không đồng ý chuyển nhượng đất đai cho vợ chồng ông N, bà Y nữa.

T i phiên Tòa, ông H vẫn giữ yêu cầu phản tố đối với vợ chồng ông N, bà Y. Yêu cầu tuyên bố giao dịch chuyển nhượng đất đai l p ngày 04/6/2017 theo “Đơn in chuyển quyền sử dụng đất” và “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” số 98 được UBND ã N chứng thực ngày 28/7/2017 là giao dịch dân sự vô hiệu. Vợ chồng ông H đồng ý có trách nhiệm trả l i cho vợ chồng ông N, bà Y số tiền 300.000.000 đồng thỏa thu n chuyển nhượng đất đai mà ông T, bà N đã nh n từ vợ chồng ông N, bà Y và sẽ tự giải quyết, tính toán với vợ chồng ông T, bà N chứ không có yêu cầu g đối với ông T, bà N.

Ông H, bà H1 cung cấp tài liệu, chứng cứ: Bản tự khai, bản sao chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu gia đ nh, 02 bản sao giấy chứng nh n quyền sử dụng đất, giấy ủy quyền của bà H1 cho ông H, đơn tr nh bày ý kiến.

Những người có quyền và nghĩa vụ liên quan:

+ Vợ chồng ông Phan T, bà Phạm Thị N đều trình bày: Vợ chồng ông T, bà N là em họ của ông H. Trước đây vợ chồng ông T, bà N có nh n chuyển nhượng của vợ chồng ông H một số diện tích đất thôn 7, ã N. Nhưng do chưa có nhu cầu sử dụng nên vẫn để ông H đứng tên giấy chứng nh n quyền sử dụng đất chứ chưa sang tên. Khoảng tháng 5/2017 vợ chồng ông N, bà Y hỏi sang nhượng diện tích đất này của vợ chồng ông T, hai bên thống nhất chuyển nhượng với giá là 560.000.000 đồng và nhờ ông H đứng ra làm thủ tục, giấy tờ cho vợ chồng ông N, bà Y. Tuy nhiên, sau khi ông H làm thủ tục sang nhượng th vợ chồng ông N, bà Y cho rằng diện tích đất thể hiện trong hợp đồng không đ ng thực tế, kéo dài không chịu giao tiền đầy đủ mà còn kh i kiện vợ chồng ông H. Hiện nay vợ chồng ông T, bà N cũng thống nhất với ông H, không đồng ý chuyển nhượng đất đai cho vợ chồng ông N, bà Y nữa. Vợ chồng ông T, bà N đồng ý giao l i số tiền 300.000.000 đồng đã nh n cho ông H để ông H trả l i cho vợ chồng ông N. Ngoài ra vợ chồng ông T, bà N không có yêu cầu g trong vụ án này.

Vợ chồng ông T, bà N cung cấp: Đơn tr nh bày ý kiến và in ét ử vắng mặt.

+ Chị Phạm Thị Thanh T, chị Phạm Thanh Kim C, chị Phạm Thị Thanh T, anh Phạm Thanh Anh T, anh Phạm Thanh Anh V, chị Phạm Thị Mỹ L đều trình bày: Các đương sự đều là con của ông H, bà H1. Vào tháng 7/2017 vợ chồng ông H, bà H1 có nhờ các đương sự về UBND ã N ký thủ tục để ông H, bà H1 chuyển nhượng đất đai chứ không rõ cụ thể việc chuyển nhượng đất đai như thế nào. Hiện nay các đương sự đều thống nhất với ý kiến và yêu cầu của ông H, bà H1 chứ không có yêu cầu g khác trong vụ án.

Chị Ph m Thị Thanh T, chị Ph m Thanh Kim C, chị Ph m Thị Thanh T, anh Ph m Thanh Anh T, anh Ph m Thanh Anh V chị Ph m Thị Mỹ L cung cấp đơn tr nh bày ý kiến và in ét ử vắng mặt.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2019/DS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện T đã quyết định:

Căn cứ vào:

- Khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; các Điều 146, 147, 157, 165, 203, 227, 228 và 244 Bộ lu t Tố tụng Dân sự;

- Các Điều 131, 500, 502, 503 và khoản 2 điều 357 Bộ lu t dân sự 2015;

- Các khoản 2, 4, 7 Điều 95 Lu t đất đai năm 2013;

- Nghị quyết 326/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Không chấp nh n yêu cầu kh i kiện của vợ chồng ông Phan N, bà Nguyễn Thị Phi Y về việc buộc vợ chồng ông Ph m Thanh H, bà Lê Thị H1 phải tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng đất đã ký kết, giao cho vợ chồng ông N, bà Y diện tích 1.818m2 đất t i thửa đất số 183 và 32, tờ bản đồ số 15 xã N theo nội dung hợp đồng chuyển nhượng số 98 mà hai bên đã ký được UBND xã N chứng thực ngày 28/7/2017 và phải trả l i cho vợ chồng ông N, bà Y số tiền 150.000.000 đồng kèm tiền lãi phát sinh theo quy định của pháp lu t.

- Chấp nh n một phần yêu cầu phản tố của bị đơn - vợ chồng ông Ph m Thanh H, bà Lê Thị H1.

Tuyên bố giao dịch dân sự về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông Ph m Thanh H, bà Lê Thị H1 và vợ chồng ông Phan N, bà Nguyễn Thị Phi Y được ác l p ngày 04/6/2017 theo “Đơn xin chuyển quyền sử dụng đất” là giao dịch dân sự vô hiệu.

Xử buộc vợ chồng ông Ph m Thanh H, bà Lê Thị H1 phải chịu trách nhiệm liên đới hoàn trả, bồi thường thiệt h i về chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Phan N, bà Nguyễn Thị Phi Y số tiền 421.500.000 đồng (300.000.000 đồng tiền chuyển nhượng hai bên đã giao nh n + 121.500.000 đồng tiền thiệt h i phát sinh). Chia phần ông H và bà H1 mỗi người phải hoàn trả, bồi thường cho vợ chồng ông N, bà Y số tiền 210.750.000 đồng.

Kể từ ngày 29/6/2019 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

- Buộc vợ chồng ông Phan N, bà Nguyễn Thị Phi Y phải có nghĩa vụ nộp 3.911.000 đồng chi phí về thẩm định, đo đ c và định giá. Số tiền 3.911.000 đồng vợ chồng ông N, bà Y t m ứng đã được chi, em như vợ chồng ông Năm, bà Yến đã nộp đủ tiền chi phí tố tụng nên không cần phải nộp thêm.

ề n phí:

- Buộc vợ chồng ông Phan N, bà Nguyễn Thị Phi Y phải chịu trách nhiệm liên đới nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (phần yêu cầu không có giá ng ch) và 7.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (phần yêu cầu có giá ng ch) nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng t m ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0012169, ngày 09/10/2017 và số tiền 14.000.000 đồng t m ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0012168, ngày 09/10/2017 đều của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T. Hoàn l i cho vợ chồng ông N, bà Y số tiền 6.500.000 đồng t m ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0012168, ngày 09/10/2017 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện T.

- Miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm cho vợ chồng ông Ph m Thanh H, bà Lê Thị H.

Ngày 11 tháng 7 năm 2019, nguyên đơn ông Phan N và bà Nguyễn Thị Phi Y kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện T theo hướng chấp nh n yêu cầu kh i kiện của ông bà.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Đ i diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn nguyên yêu cầu kh i kiện và yêu cầu kháng cáo đề nghị công nh n hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông Ph m Thanh H và vợ chồng ông Phan N đối với thửa đất số 183 và 32, tờ bản đồ số 15 xã N theo nội dung hợp đồng chuyển nhượng số 98 mà hai bên đã ký được UBND ã N chứng thực ngày 28/7/2017, có giá trị chuyển nhượng là 300.000.000 đồng.

- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

+ Về tố tụng: Tòa án cấp ph c thẩm đã thực hiện đ ng tr nh tự, thủ tục theo quy định của pháp lu t trong quá tr nh giải quyết vụ án.

+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng ét ử theo hướng chấp nh n yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn v Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 183 và 32, tờ bản đồ số 15 với diện tích 1.818m2 t i xã N theo nội dung hợp đồng chuyển nhượng số 98 mà hai bên đã ký được UBND ã N chứng thực ngày 28/7/2017, đã tuân thủ đ ng về h nh thức và nội dung của hợp đồng theo điều 117 Bộ lu t dân sự.

Đối với giao dịch “Đơn xin chuyển quyền sử dụng đất” đề ngày ác l p ngày 04/6/2017 giữa vợ chồng ông Ph m Thanh Hoài và Phan Năm đây là h nh thức giao dịch đặt cọc, phần diện tích đất chưa có giấy chứng nh n quyền sử dụng đất sẽ vô hiệu v vi ph m điều 117 Bộ lu t dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra t i phiên tòa phúc thẩm; trên cơ s em ét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến tr nh bày và tranh lu n t i phiên tòa của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng ét ử nh n thấy:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Phan N và bà Nguyễn Thị Phi Y làm trong thời h n lu t định, nộp dự phí đ ng thời gian quy định. Nội dung kháng cáo nằm trong ph m vi bản án sơ thẩm nên được em ét theo thủ tục ph c thẩm.

Xét kháng cáo của nguyên đơn đề nghị sửa bản án án sơ thẩm theo hướng chấp nh n yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn, Hội đồng ét ử thấy:

Về tố tụng, quan hệ pháp lu t: Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2019/DSST ngày 28/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện T đã ác định đ ng quan hệ pháp lu t, đưa đầy đủ những người tham gia tố tụng. Các đương sự đã được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ lu t Tố tụng Dân sự.

Về nội dung kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng ét ử thấy:

Đối với Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyển nhượng ông Ph m Thanh H, bà Lê Thị H1 cùng các thành viên trong hộ gia đ nh với bên nh n chuyển nhượng là ông Phan N và bà Nguyễn Thị Phi Y đối với thửa đất số 32 và 183, cùng tờ bản đồ số 15, diện tích 1.818 m2, địa ch t i Thôn 7, ã N, huyện T, t nh B nh Thu n, được UBND xã N, huyện T chứng thực số 98 quyển số 01/2017/-TP/CC-SCT/HĐGD ngày 28/7/2017. (Đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD.149218 và AD 242492, do UBND huyện T cấp ngày 30/9/2005 và 01/12/2005 mang tên “Hộ ông Phạm Thanh H”)

Về h nh thức: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Ph m Thanh H, bà Lê Thị H1 cùng các thành viên trong hộ gia đ nh với bên nh n chuyển nhượng là ông Phan N và bà Nguyễn Thị Phi Y được thực hiện đ ng theo quy định của pháp lu t.

Về nội dung:

Năm 2005, gia đ nh ông H nh n chuyển nhượng quyền sử dụng đất của người khác t i thôn 7, ã N với diện tích là 1.818m2 đất, t i thửa đất số 183 và 32, tờ bản đồ số 15 xã N, huyện T. Quá tr nh canh tác th gia đ nh ông H có cải t o, khai phá thêm về hướng ven suối diện tích khoảng hơn 2.000m2, tổng diện tích khoảng hơn 4.000m2. Sau đó, ông H có thỏa thu n sang nhượng toàn bộ diện tích đất này cho vợ chồng người em họ là bà Ph m Thị N, ông Phan T. Tuy nhiên, vợ chồng bà N, ông T làm ăn, sinh sống t i Thành phố Hồ Chí Minh, chưa có nhu cầu sử dụng đất nên chưa làm thủ tục chuyển quyền sang tên mà vẫn để ông H đứng tên trong giấy chứng nh n quyền sử dụng đất. Vào năm 2017 vợ chồng ông N, bà Y muốn nh n sang nhượng diện tích đất này nên thỏa thu n với vợ chồng bà N, ông T. Vợ chồng bà N, ông T điện tho i cho ông H nhờ đứng ra làm thủ tục sang nhượng với vợ chồng ông N, bà Y thì ông H đồng ý. Ngày 04/6/2017 ông H viết “Đơn in chuyển quyền sử dụng đất” thể hiện nội dung gia đ nh ông H đồng ý sang nhượng cho vợ chồng ông N, bà Y diện tích 4.386m2 đất t i khu vực Thôn 7, xã N với giá 560.000.000 đồng, bên nh n sang nhượng giao trước 300.000.000 đồng.

Sau đó, các bên đến UBND ã N, huyện T l p Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, được UBND ã N chứng thực số 98 ngày 28/7/2017 đối với thửa đất số 32 và 183, cùng tờ bản đồ số 15, diện tích 1.818 m2, địa ch t i Thôn 7, xã N, huyện T, t nh B nh Thu n v phần diện tích đất này đã được cấp Giấy chứng nh n quyền sử dụng đất số AD149218 và AD 242492, do UBND huyện T cấp ngày 30/9/2005 và 01/12/2005 mang tên hộ ông Ph m Thanh H; phần diện tích đất còn l i không được UBND ã l p trong hợp đồng chuyển nhượng v chưa có giấy chứng nh n quyền s hữu.

Giá chuyển nhượng đối với phần diện tích đất này: T i Điều 2 của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do UBND xã N chứng thực ác định giá chuyển nhượng là 150.000.000 đồng. Tuy nhiên, trong quá tr nh giải quyết t i cấp sơ thẩm nguyên đơn cũng ác định giá chuyển nhượng theo như hợp đồng là 150.000.000 đồng và yêu cầu bị đơn phải trả l i số tiền đưa thừa là 150.000.000 đồng. T i cấp ph c thẩm nguyên đơn cho rằng v do bị đơn bội tín nên mới khai như v y, thực chất giá chuyển nhượng đối với phần diện tích 1.818m2 đã có giấy chứng nh n quyền sử dụng đất là 300.000.000 đồng và khi ký kết hợp đồng chuyển nhượng nguyên đơn đã giao đủ số tiền trên cho phía bị đơn. Riêng đối với phần diện tích đất chưa có giấy chứng nh n quyền sử dụng đất th khi nào bị đơn làm ong giấy tờ th nguyên đơn mới thanh toán. Lời khai này là có căn cứ để chấp nh n, vì căn cứ theo lời khai của của nguyên đơn giá 300.000.000 đồng/560.000.000đồng chiếm tỷ lệ 53,57%, căn cứ chứng thư thẩm định giá Đông Nam phần diện tích đất 1.818m2 đã có giấy chứng nh n quyền sử dụng đất có giá 959.316.000 đồng/1.413.152.000 chiếm tỷ lệ 67,88% (giá này được các bên thừa nh n); căn cứ theo giá t i hợp đồng là 150.000.000/560.000.000 đồng chiếm tỷ lệ 26,78% là không phù hợp v không thể đất có giấy chứng nh n quyền sử dụng l i có giá trị thấp hơn được.

Vấn đề thanh toán: Việc thanh toán đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Ph m Thanh H, bà Lê Thị H1 và các con của ông H và bà H (mà thực chất là ông Phan T và bà Ph m Thị N) với bên nh n chuyển nhượng là ông Phan N và bà Nguyễn Thị Phi Y. Các bên đương sự đều thừa nh n hai bên cùng ký vào giấy viết tay do ông H l p, nhưng số tiền thỏa thu n 300.000.000 đồng giao trước th ông H không nh n mà vợ chồng ông N, bà Y giao cho ông T. Việc thỏa thu n này các bên hoàn toàn tự nguyện thực hiện, không vi ph m điều cấm của pháp lu t, không trái đ o đức ã hội nên có hiệu lực pháp lu t.

Như v y, khi tiến hành ký kết hợp đồng th các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi ph m điều cấm của pháp lu t và không trái đ o đức ã hội. H nh thức của hợp đồng đảm bảo đ ng theo quy định t i Điều 502 Bộ Lu t dân sự năm 2015 và Điều 167 Lu t Đất đai. Do đó, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất này có hiệu lực.

Đối với giao dịch “Đơn xin chuyển quyền sử dụng đất” đề ngày 04/6/2017, thể hiện nội dung gia đ nh ông H đồng ý sang nhượng cho vợ chồng ông N, bà Y diện tích 4.386m2 đất t i khu vực Thôn 7, xã N với giá 560.000.000 đồng, bên nh n sang nhượng giao trước 300.000.000 đồng; còn l i sau khi ký kết hợp đồng chuyển nhượng t i UBND ã N sẽ giao thêm 200.000.000 đồng và sau khi hoàn thành thủ tục chuyển nhượng, ra giấy chứng nh n quyền sử dụng cho bên mua sẽ giao đủ số tiền 60.000.000 đồng.

Về h nh thức: “Đơn xin chuyển quyền sử dụng đất” đề ngày 04/6/2017, giữa ông Phan N và ông Ph m Thanh H, không được thực hiện đ ng quy định t i Điều 502 Bộ Lu t dân sự năm 2015 và Điều 167 Lu t Đất đai.

Về nội dung: Hai bên thỏa thu n chuyển nhượng diện tích 4.386m2, trong đó có 1.818m2 có giấy chứng nh n quyền sử dụng đất là đối tượng giao dịch trong Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, được UBND ã N chứng thực số 98 ngày 28/7/2017 (như đã phân tích trên), riêng phần diện tích đất còn l i là 2.568m2 bên chuyển nhượng chưa có quyền sử dụng đất hợp pháp theo quy định của pháp lu t (Bên chuyển nhượng chưa được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nh n quyền sử dụng đất, nh n chuyển nhượng quyền sử dụng đất …theo quy định t i Điều 5 Lu t Đất đai).

Như v y, nội dung và h nh thức của “Đơn xin chuyển quyền sử dụng đất” đề ngày 04/6/2017, đều vi ph m điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo quy định t i Điều 117 Bộ lu t dân sự năm 2015 nên không phát sinh hiệu lực, vì v y giao dịch dân sự này bị vô hiệu 01 phần.

Về giải quyết h u quả của hợp đồng “Đơn xin chuyển quyền sử dụng đất” đề ngày 04/6/2017, giữa ông Phan N và ông Ph m Thanh H vô hiệu đối với phần diện tích đất 2.568m2 (phần chưa có giấy chứng nh n quyền sử dụng đất), do cả hai bên chưa giao nh n tiền và chuyển giao tài sản nên không phát sinh thiệt h i do hợp đồng bị vô hiệu. V v y, h u quả của hợp đồng bị vô hiệu không cần đặt ra để giải quyết.

Cấp sơ thẩm cho rằng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký kết giữa bên chuyển nhượng là ông Ph m Thanh H, bà Lê Thị H1 cùng các thành viên trong hộ gia đ nh với bên nh n chuyển nhượng là vợ chồng ông Phan N, bà Nguyễn Thị Phi Y, được UBND ã N chứng thực số 98, quyển số 01/2017-TP/CC-SCT/HĐGD, ngày 28/7/2017 là giao dịch dân sự được ác l p để nhằm che giấu giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được vợ chồng ông H với vợ chồng ông N thỏa thu n vào ngày 4/6/2017 theo “Đơn xin chuyển quyền sử dụng đất” đã được hai bên thừa nh n; nội dung thể hiện trong “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” không phải là nội dung thể hiện ý chí của hai bên khi thỏa thu n chuyển nhượng đất đai, mà ch để hợp pháp hóa thủ tục chuyển nhượng và giảm bớt nghĩa vụ tài chính khi chuyển nhượng đất đai. Do đó “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” được UBND xã N chứng thực số 98, quyển số 01/2017-TP/CC-SCT/HĐGD, ngày 28/7/2017 là giao dịch dân sự vô hiệu do giả t o theo quy định t i Điều 124 Bộ lu n dân sự năm 2015, là chưa phù hợp v phần diện tích đất 2.568m2 bên chuyển nhượng chưa có quyền sử dụng đất hợp pháp theo quy định của pháp lu t nên không đủ điều kiện để chuyển nhượng theo quy định, nên không thể nói “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” được UBND ã N chứng thực số 98, quyển số 01/2017-TP/CC-SCT/HĐGD, ngày 28/7/2017 là giao dịch dân sự vô hiệu do giả t o nhằm che giấu cho việc thỏa thu n vào ngày 4/6/2017 theo “Đơn xin chuyển quyền sử dụng đất”.

Từ phân tích trên, có đủ căn cứ để chấp nh n yêu cầu kh i kiện của ông Phan N và bà Nguyễn Thị Phi Y công nh n Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Ph m Thanh H, bà Lê Thị H1 cùng các thành viên trong hộ gia đ nh với bên nh n chuyển nhượng là ông Phan N, bà Nguyễn Thị Phi Y, được UBND ã N chứng thực số 98 ngày 28/7/2017 đối với thửa đất số 32 và 183, cùng tờ bản đồ số 15, diện tích 1.818m2, địa ch t i Thôn 7, ã N, huyện T, t nh B nh Thu n. Do đó, cần chấp nh n yêu cầu kháng cáo của ông Phan N và bà Nguyễn Thị Phi Y sửa bản án sơ thẩm.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Cấp ph c thẩm sửa bản án sơ thẩm nên án phí được tính l i theo quy định.

Về án phí dân sự ph c thẩm: Do kháng cáo của nguyên đơn ông Phan N và bà Nguyễn Thị Phi Y được Hội đồng ét ử chấp nh n nên ông N, bà Y không phải chịu theo quy định của pháp lu t.

Quan điểm của đ i diện Viện kiểm sát nhân dân t nh B nh Thu n về việc chấp nh n kháng cáo của ông Phan N và bà Nguyễn Thị Phi Y là phù hợp với nh n định của Hội đồng ét ử nên được chấp nh n, sửa án sơ thẩm theo hướng công nh n công nh n Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Ph m Thanh H, bà Lê Thị H1 cùng các thành viên trong hộ gia đ nh với bên nh n chuyển nhượng là ông Phan N, bà Nguyễn Thị Phi Y, được UBND ã N chứng thực số 98 ngày 28/7/2017 đối với thửa đất số 32 và 183, cùng tờ bản đồ số 15, diện tích 1.818m2, địa ch t i Thôn 7, ã N, huyện T, t nh B nh Thu n.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp lu t kể từ ngày hết thời h n kháng cáo, kháng nghị

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 308 và khoản 1 Điều 309 Bộ lu t Tố tụng Dân sự;

Chấp nh n yêu cầu kháng cáo của ông Phan N và bà Nguyễn Thị Phi Y, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2019/DS-ST ngày 28/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện T.

Căn cứ: Khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35, ; các Điều 146, 147, 157, 165, 203, 227, 228 và 244 Bộ lu t Tố tụng Dân sự;

- Các Điều 117, 119, 122, 130, 131, 500, 501, 502 và 503 Bộ lu t dân sự 2015;

- Các Điều 5, Điều 167, Điều 168 và Điều 188 Lu t đất đai năm 2013;

- Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Chấp nh n một phần yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn, ông Phan N và bà Nguyễn Thị Phi Y.

- Công nh n hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng được UBND ã N chứng thực số 98 ngày 28/7/2017, giữa ông Ph m Thanh H, bà Lê Thị H cùng các thành viên trong hộ gia đ nh với bên nh n chuyển nhượng là ông Phan N, bà Nguyễn Thị Phi Y (Đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD.149218 và AD 242492, do UBND huyện T cấp ngày 30/9/2005 và 01/12/2005 mang tên “Hộ ông Phạm Thanh H”).

- Ông Phan N và bà Nguyễn Thị Phi Y được trọn quyền sử dụng phần đất diện tích 1.818 m2 thuộc thửa đất số 32 và 183, cùng tờ bản đồ số 15, tọa l c t i Thôn 7, xã N, huyện T, t nh B nh Thu n.

Ông Phan N và bà Nguyễn Thị Phi Y có quyền liên hệ với các cơ quan chức năng để thực hiện việc đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định.

2. Chấp nh n một phần yêu cầu phản tố của bị đơn - vợ chồng ông Ph m Thanh H, bà Lê Thị H.

Tuyên bố giao dịch dân sự về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông Ph m Thanh H, bà Lê Thị H1 với bên nh n chuyển nhượng là vợ chồng ông Phan N, bà Nguyễn Thị Phi Y được ác l p ngày 04/6/2017 theo “Đơn xin chuyển quyền sử dụng đất” là giao dịch dân sự vô hiệu đối với phần diện tích đất là 2.568m2 mà bên chuyển nhượng chưa có quyền sử dụng đất hợp pháp theo quy định của pháp lu t.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do ông Ph m Thanh H và Lê Thị H1 là người cao tuổi nên theo quy định của pháp lu t được miễn toàn bộ án phí sơ thẩm.

Hoàn l i cho ông Phan N và bà Nguyễn Thị Phi Y số tiền 300.000 đồng t m ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0012169, ngày 09/10/2017 và số tiền 14.000.000 đồng t m ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0012168, ngày 09/10/2017 đều của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện T.

4. Về chi phí em ét thẩm định t i chỗ, định giá tài sản và đo đ c đất:

Ông ông Phan N, bà Nguyễn Thị Phi Y tự nguyện chịu 3.911.000 đồng chi phí về thẩm định, đo đ c và định giá. Số tiền 3.911.000 đồng vợ chồng ông N, bà Y t m ứng đã được chi, vợ chồng ông N, bà Y đã nộp đủ tiền chi phí tố tụng nên không cần phải nộp thêm

Đối với chi phí thẩm định giá theo giá thị trường t i cấp ph c thẩm, do các bên đều tự yêu cầu nên tự chi trả.

5. Về án phí dân sự ph c thẩm: Ông Phan N và bà Nguyễn Thị Phi Y không phải chịu án phí dân sự ph c thẩm. Hoàn l i cho ông Phan N số tiền 300.000 đồng t m ứng án phí theo biên lai số 0013486 và bà Nguyễn Thị Phi Y số tiền 300.000 đồng t m ứng án phí theo biên lai số 0013487, cùng ngày 17 tháng 7 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định t i Điều 2 của Lu t thi hành án dân sự th người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thu n thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định t i các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Lu t Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định t i Điều 30 của Lu t Thi hành án dân sự.

Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp lu t kể từ ngày hết thời h n kháng cáo, kháng nghị.

6. Bản án ph c thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ