- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng hụi"
- Tòa quyết gì? 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 86/2022/DS-ST Ngày: 24/8/2022 “V/v Tranh chấp Hợp đồng góp hụi” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đặng Văn Tâm;
2. Ông Lê Văn Phụng.
Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Bá Thi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang
tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Lợi – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ
Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:
186/2022/TLST-DS ngày 24 tháng 5 năm 2022 về việc “Tranh chấp Hợp
đồng góp hụi”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 389/2022/QĐXXST-DS
ngày 12 tháng 7 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số: 368/QĐST-DS
ngày 04 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị A (2 A) (theo CMND là Nguyễn Thị
A), sinh năm 1951; địa chỉ: ấp TQ, xã TM, hyện CM, tỉnh An Giang; có mặt.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1965; địa chỉ: ấp TQ, xã TM,
hyện CM, tỉnh An Giang; vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn T, sinh
năm 1966; địa chỉ: ấp TQ, xã TM, hyện CM, tỉnh An Giang; vắng mặt (do có
ý kiến đề nghị vắng mặt tại văn bản ghi nhận lời khai ngày 02/6/2022).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ
án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị A trình bày, bà chơi 01 dây hụi, khởi khui ngày 20/3/2020 âm lịch, hụi gồm 24 hụi viên, bà đã chầu 14 lần (14 tháng), hụi này đến nay chưa mảng với số tiền hụi là 500.000đồng/tháng.
Tổng số tiền đã chầu hụi sống là 5.100.000đồng, lời là 1.900.000đồng,
tại đơn khởi kiện, bà yêu cầu bà Đ và chồng bà Đ là ông Trần Văn T trả 6.100.000đồng, nay bà rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, đề nghị bà Đ, ông T phải thanh toán số tiền là 5.100.000đồng.
Bà không đồng ý việc bà Đ đề nghị trả số tiền 500.000đồng/tháng, yêu
cầu bà Đ và ông T phải trả 01 lần.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Đ tại biên bản ghi nhận lời khai, biên bản hòa
giải trong quá trình giải quyết vụ án trình bày, bà A (2 A) chơi 01 dây hụi, khởi khui ngày 20/3/2020 âm lịch, hụi gồm 24 hụi viên, bà A chầu 14 lần (14 tháng), hụi này đến nay chưa mảng với số tiền hụi là 500.000đồng/tháng.
Tổng số tiền đã chầu hụi sống là 5.100.000đồng, lời là 1.900.000đồng,
bà A yêu cầu bà và chồng ông Trần Văn T trả 6.100.000đồng, bà không đồng ý, mà chỉ đồng ý trả số tiền là 5.100.000đồng.
Quá trình chơi hụi, chồng bà là ông T có biết, có những lần nhận hụi
thay, tiền hụi dùng vào việc sinh hoạt, mua sắm trong gia đình, bà và ông T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T vắng mặt
trong quá trình giải quyết vụ án, nên không ghi nhận được ý kiến tại các phiên hòa giải. Tuy nhiên, tại biên bản ghi nhận lời khai, do cán bộ Tòa án thực hiện ghi nhận ý kiến của ông T; ông T đã trình bày: ông và bà Nguyễn Thị Đ là vợ chồng có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật từ năm 1983 đến nay, ông có nhận và biết được Tòa án mời làm việc do các nguyên đơn với tư cách là hụi viên khởi kiện vợ ông bà Đ là chủ hụi, do sau khi thực hiện khui hụi không thực hiện trả tiền hụi cho các hụi viên; ông có biết bà Đ là chủ hụi nhưng không biết việc ai là hụi viên, cũng như bà Đ khi thu tiền hụi, trả tiền hụi cho ai ông hoàn toàn không nắm được, cũng như không thực hiện thu hụi của các hụi viên thay bà Đ. Bà Đ khi thu tiền hụi, có tiền lời bao nhiêu ông không biết, bà Đ là vợ ông, là chủ hụi từ khoảng hơn 10 năm nay, việc bà Đ bể hụi ông biết, do bà Đ có báo cho ông, ông không đồng ý liên đới với bà Đ do ông không biết các hụi viên, không thu hụi, không biết bà Đ dùng tiền hụi vào mục đích gì; ngoài ra bà Đ còn bị rất nhiều người giựt hụi, ông phải T phụ bà Đ trả thay, ông biết việc đưa ông tham gia tố tụng, nhưng đề nghị vắng mặt tại các phiên hòa giải, đối chất, lấy lời khai và tại phiên tòa.
Tại phiên tòa:
- Bà Nguyễn Thị A, trình bày ý kiến, yêu cầu như đã cung cấp trong
giai đoạn chuA bị xét xử và xác định không có tài liệu, chứng cứ khác giao
nộp cho Tòa án chứng minh cho ý kiến, yêu cầu của mình, bà rút một phần
yêu cầu khởi kiện với số tiền 1.000.000đồng.
- Bà Nguyễn Thị Đ vắng mặt tại phiên tòa, nhưng lời trình bày phù
hợp với lời trình bày của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án.
- Ông Nguyễn Văn T vắng mặt tại phiên tòa, nên không ghi nhận được
ý kiến.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa
án trong giai đoạn chuA bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét
xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân
sự.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng:
- Đối với nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị A đã thực hiện đúng theo quy
định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Đối với bị đơn: Bà Nguyễn Thị Đ đã thực hiện đúng theo quy định
tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Đối với người người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn
Văn T, đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 73 Bộ luật Tố tụng
dân sự và xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
Về việc giải quyết vụ án: căn cứ bà A khởi kiện là giấy hụi ngày
20/3/2020al và bà Đ cũng thừa nhận còn nợ bà A 5.100.000đồng, bà A
không yêu cầu tính lãi, nên bà A khởi kiện là có căn cứ, phù hợp với quy
định tại Điều 471 Bộ Luật dân sự và Điều 18, 23 Nghị định số 19 ngày
19/02/2019 của Chính phủ quy định về hụi, họ, biêu, phường.
Đối với việc bà Đ xin trả dần hàng tháng, do bà A không đồng ý nên
không có cơ sở xem xét, chấp nhận. Quá trình giải quyết vụ án, bà A rút một
phần yêu cầu khởi kiện với số tiền 1.000.000đồng, nên căn cứ Điều 244 Bộ
luật tố tụng dân sự, đình chỉ xét xử đối với số tiền này.
Đối với yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn T liên đới trả cho bà A số tiền
5.100.000đồng. Thấy rằng, trong thời gian bà Đ làm chủ hụi, bà Đ và ông T
thừa nhận là vợ chồng, chung sống cùng nhau. Mặc khác, bà Đ thừa nhận,
việc bà chơi hụi nhằm mục đích tạo thu nhập để phục vụ cuộc sống, sinh
hoạt cho gia đình, ông T biết việc bà làm chủ hụi và đôi khi ông T có thay bà
Đ nhận tiền hụi của hụi viên đến đóng hụi.
Vì vậy, có căn cứ xác định rằng, đây là số nợ phát sinh trong thời kỳ
hôn nhân theo Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình nên có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của bà A.
Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà
Nguyễn Thị A đối với bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Văn T.
Buộc bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Văn T trả cho bà Nguyễn
Nguyễn Thị A tiền 5.100.000đồng.
Đình chỉ xét xử đối với số tiền 1.000.000đồng.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại các Điều 244 Bộ luật Tố
tụng dân sự; Điều 471 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 18, 23 Nghị định 19 ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về hụi, họ, biêu, phường, xem xét, quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Bà Nguyễn Thị A khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Đ thanh toán tiền
hụi, bà Đ là người bị kiện đang cư trú tại địa bàn huyện Chợ Mới, giữa các bên công nhận có chơi hụi, nên Hội đồng xét xử thống nhất quan hệ tranh chấp để giải quyết vụ án là “tranh chấp về Hợp đồng góp hụi” theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.
Về nội dung:
Bà Nguyễn Thị A, tham gia 01 dây hụi, do bà Đ làm chủ hụi các
bên tham gia hụi là tự nguyện, tự thỏa thuận, không bị ép buộc; tại đơn khởi kiện, cũng như tại các biên bản hòa giải, biên bản ghi nhận lời khai, bà A và bà Đ đều thống nhất về dây hụi, ngày khởi khui hụi, số lần chầu hụi, số tiền đã chầu hụi, số tiền lời; thống nhất về số tiền tại các lần chầu hụi, tổng số tiền hụi sống tại dây hụi ngày 20/3/2020 âm lịch đến nay bà Đ, ông T phải thanh toán như nêu trên, nên sự thống nhất này của các đương sự là sự kiện không cần chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét thấy, giữa bà A và bà Đ có quan hệ chơi hụi, theo đó bà Đ là chủ
hụi, các đương sự đã đối chiếu thống nhất số tiền hụi, dây hụi, số lần chầu hụi, hụ viên, nên có cơ sở xác định đến nay số tiền hụi do bà Đ làm chủ, còn thiếu của bà A với số tiền là 5.100.000đồng, nên Hội đồng xét xử thống nhất, việc bà A yêu cầu khởi kiện là có căn cứ, lời trình bày của bà A phù hợp với lời trình bày của bà Đ, cũng như số tiền, số lần khởi khui hụi các đương sự đều thống nhất; theo đơn yêu cầu khởi kiện của bà A, yêu cầu bà Đ và ông T phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán tiền nợ hụi, thì thấy: việc ông T cho rằng, ông không có trách nhiệm liên đới với bà Đ, vì không biết bà Đ dùng
tiền vào việc gì, nhưng ông lại biết việc bà Đ là chủ hụi hơn 10 năm nay, ông
T cũng biết việc bà Đ vỡ hụi, cũng phụ bà Đ trong việc trả tiền hụi đối với
người chơi hụi (Biên bản lấy lời khai ngày 02/6/2022 đối với ông T), bà Đ
cũng khẳng định việc làm chủ hụi, tiền lời hụi bà dùng chung vào mục đích
sinh hoạt gia đình.
Vì vậy, có cơ sở xác định ông T hoàn toàn biết việc bà Đ là chủ hụi,
biết việc bà Đ là người T nhận tiền từ các hụi viên, nên ông cho rằng không
có trách nhiệm liên đới là không có căn cứ, cả ông T và bà Đ đều thừa nhận
là vợ chồng có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, bà Đ và ông T cùng
sống chung nhà, bà Đ có dùng tiền chơi hụi vào mục đích chung trong sinh
hoạt gia đình theo như lời trình bày của bà Đ, nên có cơ sở chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của bà A về việc buộc bà Đ, ông T phải có trách nhiệm liên
đới theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình và thực hiện nghĩa
vụ của hụi viên, người tham gia hụi theo quy định tại Nghị định số
19/20219/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ, do bà A không đồng ý
việc bà Đ trả dần, nên bà Đ, ông T phải có nghĩa vụ thanh toán.
Do đó, bà Đ, ông T phải có trách nhiệm liên đới thanh toán cho bà A
số tiền hụi đến nay chưa thanh toán là: 5.100.000đồng.
Tại đơn khởi kiện, bà A yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc bà Đ,
ông T phải liên đới thanh toán số tiền là 6.100.000đồng, nhưng quá trình giải
quyết vụ án bà A rút một phần yêu cầu khởi kiện với số tiền là
1.000.000đồng, việc bà A rút một phần yêu cầu khởi kiện hoàn toàn tự
nguyện, không trái pháp luật, nên Hội đồng xét xử thống nhất đình chỉ yêu
cầu khởi kiện theo quy định tại Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự với số
tiền 1.000.000đồng.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Do yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị A được chấp nhận, hơn
nữa bà A có đơn xin miễn giảm án phí, có xác nhận của địa phương là người
cao tuổi, nên thuộc trường hợp miễn án phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội, do vậy bà không phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
- Bà Nguyễn Thị Đ phải chịu án phí tương ứng với số tiền
5.100.000đồng, nhưng do bà Đ, ông Nguyễn Văn T phải liên đới thanh toán
nợ, nên cả bà Đ, ông T phải liên đới chịu án phí theo quy định của Bộ luật tố
tụng dân sự.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo đúng
quy định tại các Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 357, 471 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39, các Điều 144, 147, 244, 271, 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Căn cứ các Điều 18, 23 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày
19/02/2020 về hụi, họ, điêu, phường của Chính phủ.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị A đối với bà Nguyễn Thị Đ
và ông Nguyễn Văn T;
- Buộc bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Văn T phải liên đới trả bà
Nguyễn Thị A số tiền 5.100.000đồng (năm triệu, một trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án
(đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Đình chỉ xét xử đối với số tiền 1.000.000đồng (một triệu đồng).
3. Về án phí sơ thẩm:
- Bà Nguyễn Thị A được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy
định pháp luật.
- Bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Văn T phải liên đới chịu án phí dân
sự sơ thẩm với số tiền 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng), bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Văn T phải có nghĩa vụ nộp án phí tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
4. Về quyền kháng cáo:
- Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bà Nguyễn
Thị A có mặt, có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
- Riêng bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo
trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi
hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án
dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại
Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực
hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Chợ Mới (2); - TAND tỉnh An Giang (1); - Chi cục THADS huyện Chợ Mới (1); - Các đương sự (để thi hành) (2); - Lưu hồ sơ (1); - Lưu văn phòng (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trung Kiên |