vanban.org

Bản án 86/2021/HSST — Hình sự

TAND TP. Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng Tuyên án 22/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Xử: Tịch thu tiêu hủy 01 đầu chiếc vam phá khóa bằng kim loại. Trả lại bị cáo Đàm Chí T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Biển kiểm soát 15G1-77516 màu sơn xanh- đen-bạc đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng (Vật chứng có đặc điểm được mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/7/2021 của Chi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đàm Chí T phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2021/HSST
Ngày 22-7-2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂNHUYỆNTHUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Ngọc Anh

-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên Thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự theo thủ tục rút gọn thụ lý số: 82/2021/TLST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo:

Đàm Chí T, sinh năm 1992; tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn 4, xã G, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đàm Trì D, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1961; chưa có vợ con; tiền án: Không;

Quá trình nhân thân:

Bản án số 109 ngày 16/11/2010 Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 09 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng, thi hành án dân sự ngày 12/01/2011 (đã xóa án tích).

Bản án số 66 ngày 24/4/2013 Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xử phạt 48 tháng tù về tội Cướp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/5/2016, thi hành án dân sự ngày 24/7/2013 (đã xóa án tích).

Tiền sự: Ngày 16/03/2017, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng. Ngày 09/03/2020 đã chấp hành xong.

Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ ngày 17/6/2021 đến ngày 18/6/2021 chuyển tạm giam; có mặt.

Bị hại: Anh Vũ Đình A, sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ dân phố Q, thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 17/6/2021, Đào Văn T, sinh năm 1992, trú tại Thôn 1, xã G, huyện T, thành phố Hải Phòng điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Biển kiểm soát 15G1-77516 chở Đàm Chí T trên đường về nhà. Khi đi qua khu vực trước của nhà chị Hoàng Thị L thuộc Tổ dân phố Q, thị trấn M, huyện T, T phát hiện trước sân nhà chị La dựng 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream BKS 16F3-6371 không có người trông coi nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. T bảo Ti quay lại và đứng ngoài chờ T. Ti không biết T quay lại mục đích để trộm cắp tài sản. T đi vào trong sân nhà chị La dắt xe sang phía đường đối diện và gọi Ti Quay lại. Ti đã can ngăn nhưng T vẫn dùng vam phá khóa để mở khóa xe mô tô vừa trộm cắp được. Khi T đang mở khóa xe thì bị nhân dân và lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.

Theo bản Kết luận định giá tài sản số 48/HĐĐGTS ngày 17/6/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thủy Nguyên kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, Dream BKS 16 3-6371, trị giá 3.000.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra, Đàm Chí T khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên, đồng thời T khai do nghiện ma túy nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền ăn tiêu. T không bàn bạc, không nói cho Ti biết mục đích trộm cắp tài sản.

Về dân sự: Anh Vũ Đình A đã nhận lại chiếc xe trên, không yêu cầu bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo T.

Về vật chứng: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Biển kiểm soát 15G1-77516 và 01 chiếc vam phá khóa chuyển chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thủy Nguyên quản lý.

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 01/QĐ-VKSTN ngày 09/7/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Đàm Chí T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Đàm Chí T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã nêu. Bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ nhất.

Bị hại là anh Vũ Đình A vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai có trong hồ sơ khai: Khoảng 01 giờ 00 ngày 17/6/2021, Đàm Chí T đã đột nhập vào nhà chị Hoàng Thị L chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream BKS 16 3-637 thuộc sở hữu của anh An để nhờ ở sân nhà chị La, chiếc xe nói trên trị giá 3.000.000 đồng. Anh An đã nhận lại chiếc xe mô tô trên còn nguyện vẹn, anh An không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Kiểm sát viên sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, h khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đàm Chí T từ (15) tháng đến (18) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 17/6/2021. Về vật chứng gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Biển kiểm soát 15G1-77516 là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của bị cáo T, quá trình điều tra xác định được bị cáo không sử dụng chiếc xe nói trên vào mục đích phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bị cáo T. Đối với 01 chiếc vam phá khóa là công cụ sử dụng vào mục đích phạm tội và không còn giá trị sử dụng đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy. Về dân sự đã giải quyết xong tại giai đoạn điều tra, bị hại không yêu cầu bồi thường nên Kiểm sát viên không đề cập giải quyết. Ngoài ra, Kiểm sát viên còn đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trong vụ án này còn có anh Đào Văn T đi cùng với Đàm Chí T nhưng không được bàn bạc và không tham gia hành vi chiếm đoạt tài sản cùng với T nên Cơ quan điều tra không xử lý.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thủy Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan Ti hành tố tụng, người Ti hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Ti hành tố tụng, người Ti hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Hành vi, quyết định tố tụng của thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thủy Nguyên, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ căn cứ để kết luận: Ngày 17/6/2021, Đàm Chí T đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream BKS 16 3-6371 của anh Vũ Đình A, trị giá tài sản chiếm đoạt là 3.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội không những trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy, cần thiết phải áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà và tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội gây thiệt hại không lớn, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, h khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên có thể xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo có nhân thân xấu, đã từng phải chấp hành hình phạt của nhiều bản án nhưng bị cáo không rút ra bài học nghiêm khác cho bản thân nay lại tiếp tục phạm tội mới. Vì vậy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục cải tạo riêng bị cáo và phòng ngừa chung.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Biển kiểm soát 15G1-77516 là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của bị cáo T, quá trình điều tra xác định được bị cáo không sử dụng chiếc xe nói trên vào mục đích phạm tội nên trả lại cho bị cáo. Đối với 01 chiếc vam phá khóa là công cụ sử dụng vào mục đích phạm tội và không còn giá trị sử dụng đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại. Bị hại không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s, h khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo: Đàm Chí T 15 (mười lăm) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/6/2021.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Xử: Tịch thu tiêu hủy 01 đầu chiếc vam phá khóa bằng kim loại. Trả lại bị cáo Đàm Chí T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Biển kiểm soát 15G1-77516 màu sơn xanh- đen-bạc đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng (Vật chứng có đặc điểm được mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/7/2021 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng).

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm. thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; xử: Bị cáo Đàm Chí T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ