vanban.org

Bản án 86/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam Tuyên án 29/12/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Văn T 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/10/2020. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy: 01 bao tải cũ màu trắng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T phạm tội "trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DUY TIÊN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 86/2020/HSST
Ngày 29 -12 -2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Đông.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Quốc Phòng.

2. Ông Nguyễn Minh Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tươi - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 84/2020/HSST ngày 23 tháng 11 năm 2020, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2020 đối với:

* Bị cáo: Nguyễn Văn T, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn M, xã Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị H; vợ: Vũ Thị L; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2014; tiền án: Ngày 29/6/2016, bị TAND huyện P, tỉnh Lai Châu xử phạt 12 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 138 BLHS 1999, chấp hành xong ngày 22/4/2017, chưa được xóa án tích. Ngày 28/12/2017, bị TAND huyện P, tỉnh Lai Châu xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 138 BLHS 1999 với tình tiết "tái phạm" theo điểm g khoản 1 Điều 46 BLHS 1999, chấp hành xong ngày 19/02/2020, chưa được xóa án tích. Nhân thân: Ngày 21/8/2012, bị UBND huyện D (nay là thị xã D), tỉnh Hà Nam ra Quyết định số 3445/QĐ - UBND về việc đưa đối tượng đi cai nghiện ma túy tại Trung tâm chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Hà Nam, thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 22/8/2014. Ngày 23/02/2016, bị TAND huyện D (nay là thị xã D), tỉnh Hà Nam ra Quyết định số 04/2016/QĐ - TA về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng. Bị cáo đang chấp hành thì ngày 22/4/2016 bị bắt để xử lý hình sự về tội "Trộm cắp tài sản" tại địa bàn huyện P, tỉnh Lai Châu. Từ đó đến nay không có cơ sở xác định bị cáo tiếp tục sử dụng ma túy; bị bắt tạm giữ từ ngày 30/10/2020, đến ngày 08/11/2020 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; có mặt.

* Bị hại:Anh Lê Tiến D, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn Tr, xã Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1955; địa chỉ: Thôn M, xã Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam; có mặt

* Người làm chứng:

+ Anh Trần Hữu N, sinh năm 1996, vắng mặt

+ Anh Trần Hữu Ng, sinh năm 1976; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có ý định trộm cắp tài sản từ trước nên khoảng 17 giờ 40 phút ngày 30/10/2020, Nguyễn Văn T, sinh năm 1987 ở thôn M, xã Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam một mình đi chiếc xe đạp (loại xe cào cào) màu xanh, mang theo một chiếc bao tải màu trắng để đi trộm cắp gà. T đi đến bãi đất trống cạnh khu vực chuồng gà của gia đình anh Lê Tiến D, sinh năm 1978 ở thôn Tr, xã Y, thị xã D. Quan sát xung quanh không có ai nên T cầm theo bao tải trèo qua tường bao xây bằng gạch bi tiến đến vị trí chuồng gà của gia đình anh D. T đã bắt 05 con gà, gồm 04 con gà mái lông màu vàng, trắng có trọng lượng 6,7kg và 01 con gà trống chọi màu lông đen có trọng lượng 2,1kg rồi cho vào bao tải. Sau đó T buộc đầu bao tải lại, xách bao tải gà đi về phía tường bao để ra ngoài. Khi T cầm bao tải đựng gà ra vị trí dựng xe đạp để về thì bị anh D phát hiện, hô hoán quần chúng nhân dân bắt giữ người cùng vật chứng có liên quan đồng thời báo cơ quan Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Vật chứng thu giữ gồm: Thu tại khu đất trống ở thôn Tr, xã Y 01 bao tải, bên trong có 04 con gà ta và 01 con gà chọi (cơ quan Công an đã giao 05 con gà cho gia đình anh Lê Tiến D quản lý, chăm sóc). Thu của Nguyễn Văn T 01 xe đạp nữ, sơn màu xanh.

Tại bản Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Duy Tiên số 42 ngày 31/10/2020 kết luận như sau: 01 con gà trống chọi, 04 con gà mái ta có tổng trọng lượng 8,8kg, giá trị 616.000đ.

Cáo trạng số 89/CT-VKS ngày 23/11/2020, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn Văn T mức án từ 15 (Mười lăm) tháng đến 18 (Mười tám) tháng tù. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đưa ra quan điểm về hình phạt bổ sung, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và án phí của vụ án.

Tại phiên tòa bà Nguyễn Thị H có quan điểm: Chiếc xe đạp nữ là của bà. Bà không biết bị cáo mang xe đi trộm cắp tài sản. Nay bà đã nhận lại chiếc xe đạp và không có ý kiến đề nghị gì.

Trong phần tranh luận và lời nói sau cùng, bị cáo chỉ xin giảm nhẹ hình phạt ngoài ra không có tranh luận gì; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Duy Tiên và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm định tại phiên tòa, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 30/10/2020, tại thôn Tr, xã Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam, lợi dụng lúc không có người trông coi, Nguyễn Văn T đã lén lút đột nhập vào khu vực bãi đất trống, nơi có chuồng gà của gia đình anh Lê Tiến D trộm cắp 01 con gà trống chọi, 04 con gà mái ta thì bị anh D phát hiện, hô hoán quần chúng nhân dân đến bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng có liên quan. Tổng giá trị tài sản 05 con gà Nguyễn Văn T trộm cắp có trọng lượng 8,8kg, giá trị là 616.000đ. Mặc dù số tài sản mà Nguyễn Văn T đã trộm cắp có giá trị dưới hai triệu đồng nhưng Nguyễn Văn T đã có 02 tiền án về tội "Trộm cắp tài sản" đều chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của T đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Hành vi nêu trên của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm tài sản của người khác được pháp luật bảo hộ, đồng thời ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Mặc dù bị cáo đang có 02 tiền án nhưng đều về các hành vi chiếm đoạt tài sản, do đó 02 tiền án này đều được dùng làm yếu tố định tội nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ nhận định trên, HĐXX nhận thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu, có nhiều tiền án về tội trộm cắp tài sản và đã bị đưa đi cai nghiện bắt buộc nhưng bị cáo không có ý thức tự cải sửa bản thân mà tiếp tục dấn thân vào phạm tội. Trước khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 30/10/2020, bị cáo còn bị Cơ quan CSĐT Công an huyện P, tỉnh Lai Châu đang khởi tố điều tra về hành vi trộm cắp xảy ra tại địa bàn huyện P, tỉnh Lai Châu và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú". Vì vậy cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo là phù hợp với pháp luật và thực tế.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

Về vật chứng vụ án:

Đối với chiếc xe đạp nữ, sơn màu xanh: Quá trình điều tra Công an thị xã Duy Tiên đã xác định chiếc xe này là của bà Nguyễn Thị H (mẹ đẻ bị cáo Nguyễn Văn T). Ngày 30/10/2020, T dùng chiếc xe này làm phương tiện đi đến nhà anh D trộm cắp gà bà H không biết. Ngày 15/11/2020, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên đã xử lý vật chứng trả lại cho bà Nguyễn Thị H chiếc xe đạp nữ trên. Bà H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên HĐXX không đặt ra giải quyết.

Đối với 01 bao tải cũ màu trắng là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định.

Từ nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Văn T 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/10/2020.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy: 01 bao tải cũ màu trắng.

Toàn bộ đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thị xã Duy Tiên và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên ngày 24/11/2020

3. Về án phí HSST: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp: 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ