- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Anh Đức - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh Đ phạm tội: “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂY HỒ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 86/2020/HS-ST Ngày: 30-6-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂY HỒ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Giang
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thanh Huyền
2. Ông Trần Văn Bách
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Châu – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội
tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Thành – Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 30 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 85/2020/TLST - HS ngày 01 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2020/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Anh Đ – sinh năm 1987; HKTT và nơi cư trú: Thôn Mai H, xã Mai L, huyện ĐA, thành phố H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Như H và bà Nguyễn Thị L; Vợ Nguyễn Yến H; Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 000000135 ngày 06 tháng 3 năm 2020 của Công an quận Tây Hồ lập và lý lịch địa phương cung cấp, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; Nhân thân: Không có tiền án, tiền sự; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/02/2020 đến ngày 06/3/2020, hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Chị Nguyễn Thị H – sinh năm: 1983; Địa chỉ: Tổ dân phố Viên X, phường Cổ Nh, quận Bắc TL, thành phố Hà N (vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 6 giờ 00 phút, ngày 29 tháng 02 năm 2020, Nguyễn Anh Đ đi xe máy nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát: 29S1-585.28 màu đỏ đen từ nhà sang khu vực quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội với mục đích đề tìm việc làm. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, do không tìm được việc làm nên Đ đã đi vào chùa Vạn Niên (địa chỉ: Số nhà 364, đường Lạc Long Quân, phường Xuân La, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội) để lễ. Đ gửi xe máy ở ngoài cổng rồi đi vào bên trong, đến khu vực gian thờ Tam Bảo. Trong lúc ngồi lễ tại đây, Đ nhìn thấy chị Nguyễn Thị H đang ngồi lễ sát cửa ra vào bậc thềm gian thờ Tam Bảo, phía sau bên trái gần vị trí ngồi của chị H có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J4+ màu đen đang cắm sạc, để trên túi nilon đựng đồ lễ. Đ quan sát xung quanh không có ai để ý, chị H đang mải lễ nên đã nãy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại trên để bán lấy tiền tiêu xài. Đ ngồi xuống, dùng tay trái nhấc điện thoại lên và dùng tay phải rút sạc ra khỏi điện thoại thì bị chị H phát hiện và hô hoán. Đ cầm điện thoại bỏ chạy, trên đường chạy Đ đã nhét chiếc điện thoại trên vào trong túi quần phía trước bên trái, khi chạy ra tới cổng chùa thì bị một số người dân cùng chị H đuổi theo bắt được. Đ đã tự tay lấy từ trong túi quần phía trước bên trái của mình ra 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J4+ màu đen mà Đ vừa lấy trộm được trả lại cho chị H. Chị H đã trình báo công an phường Xuân La. Công an phường đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ tang vật, sau đó đưa Đ cùng tang vật về trụ sở Công an phường để giải quyết.
Vật chứng thu giữ:
Thu giữ của chị Nguyễn Thị H: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J4+, màu đen, có vỏ ốp màu xanh cốm, số IMEI 1: 351590101619133; số IMEI 2: 351591101619131.
Thu giữ của Nguyễn Anh Đ: 01(một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát: 29S1-585.28 màu đỏ đen; số khung: 3211EY096867; số máy: JA32E1183604, xe đã qua sử dụng, chất lượng không kiểm tra và 01 (một) điện thoại di động Samsung J7PRO, màu hồng nhạt, số IMEI 1: 353317093203561, số IMEI 2: 353318093203569, có vỏ ốp nhựa màu đen đã qua sử dụng, chất lượng không kiểm tra.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 30/KL-HĐĐG ngày 03 tháng 03 năm 2020 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự UBND quận Tây Hồ kết luận: 01 (một) chiếc điện thoại di động Samsung J4+ màu đen, IMEI: 351590101619133 trị giá: 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng).
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J4+ màu đen do Đ trộm cắp được, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Tây Hồ đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả lại cho chị Nguyễn Thị H, chị H đã nhận tài sản và không có yêu cầu bồi thường dân sự và đề nghị giạm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đối với xe máy nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát: 29S1-585.28 màu đỏ đen; số khung: 3211EY096867; số máy: JA32E1183604, đăng ký xe số 018588 mang tên Nguyễn Anh Đ. Tại bản kết luận giám định số 2880/KL-PC09-Đ3 ngày 20 tháng 04 năm 2020 của Phòng kỹ thuật hình sự – Công an thành phố Hà Nội kết luận: Xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE, biển kiểm soát: 29S1-585.28 có số khung RLHJA3211EY096867 và số máy JA32E-1183604 là số nguyên thủy. Kết quả tra cứu xe máy: Không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J4+, màu đen, có vỏ ốp màu xanh cốm, số IMEI 1: 351590101619133, số IMEI 2: 351591101619131 thu giữ của Đ. Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Tây Hồ đã tiến hành xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả cho Nguyễn Anh Đ. Đ đã nhân lại toàn bộ số tài sản và có có ý kiến, đề nghị gì.
Bản cáo trạng số 83/CT – VKSTH ngày 29 tháng 5 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ đã truy tố bị cáo Nguyễn Anh Đ về tội : “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi như tại cơ quan điều tra và như bản cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Nguyễn Anh Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm h, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí tòa án.
Về hình phạt: Đề nghị xử phạt Nguyễn Anh Đ từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.
Về hình phạt bổ sung: Không.
Về dân sự: Không.
Về vật chứng: Không
Nói lời sau cùng: Bị cáo biết mình sai, vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Tây Hồ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp
Về việc vắng mặt của bị hại: Tòa án đã triệu tập hợp lệ chị Nguyễn Thị H đến tham gia tố tụng tai phiên tòa nhưng chị H vắng mặt không có lý do. Chị H đã có lời khai đầy đủ tại giai đoạn điều tra nên việc chị H vắng mặt tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại là đúng quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về hành vi của bị cáo: Xét lời khai nhận của bị cáo Đ tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, truy tố; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; Bản Kết luận định giá tài sản; Bản kết luận giám định; Lời khai của bị hại; Lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 29/02/2020, tại chùa Vạn Niên (địa chỉ: Số nhà 364, đường Lạc Long Quân, phường Xuân La, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội), Nguyễn Anh Đ đã lợi dụng sơ hở, lén lút chiếm đoạt tài sản của chị Nguyễn Thị H là 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J4+, màu đen, có vỏ ốp màu xanh cốm, số IMEI 1: 351590101619133, số IMEI 2: 351591101619131 có trị giá 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng).
Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội: Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo Nguyễn Anh Đ về tội: Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo đã cố ý xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được Bộ luật Hình sự bảo vệ và gây mất trật tự, an toàn xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Tài sản thiệt hại không lớn và đã thu hồi được trả cho bị hại; Tại giai đoạn điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử cũng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm h, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Bị cáo có nhân thân tốt, hành vi phạm tội do bột phát, số tiền chiếm đoạt không lớn, có nơi cư trú rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ – HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tôi cao, nên không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo, răn đe, phòng ngừa tội phạm. Điều đó cũng thể hiện chính sách pháp luật hình sự nhân đạo của nhà nước, giúp họ yên tâm cải tạo, trở thành người có ích cho xã hội và phù hợp với đề xuất của Viện kiểm sát.
Về hình phạt bổ sung như phạt tiền: Xét thấy bị cáo không có tài sản và thu nhập nên không áp dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường về dân sự nên Tòa án không giải quyết.
Về vật chứng: Không
Về án phí: Bị cáo pH chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh Đ phạm tội: “Trộm cắp tài sản”
2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, điểm i , điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Nguyễn Anh Đ 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án (ngày 30/6/2020). Giao bị cáo Nguyễn Anh Đ cho UBND xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội để giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về xử lý vật chứng: Không
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí tòa án.
Bị cáo Nguyễn Anh Đ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.
Án xử công khai sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luât.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND quận Tây Hồ; - CAQ Tây Hồ; - CCTHADS quận Tây Hồ; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS/VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Giang |