vanban.org

Bản án 86/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 21/12/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Phương Văn N, Hà Văn V phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: 1- Xử phạt bị cáo Phương Văn N 02 (hai) năm tù, thời hạn tính từ ngày 15 tháng 9 năm 2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phương Văn N và Hà Văn V - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Phương Văn N, Hà Văn V phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN LÃNG
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2020/HS-ST
Ngày 21-12-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Triệu Thị Máy.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đặng Thị Hiền;

Bà Lương Thị Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Sơn Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Lệ Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 87/2020/TLST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2020/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2020 đối với các bị cáo:

1. Phương Văn N, tên gọi khác: Không, sinh ngày 05 tháng 9 năm 1996, tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã B, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phương Văn H1 và bà Hoàng Thị T; chưa có vợ, con; tiền sự, tiền án: Không có. Nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/9/2020 đến nay. Có mặt.

2. Hà Văn V, tên gọi khác: Không, sinh ngày 14 tháng 5 năm 2000, tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã B, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn L và bà Hoàng Thị S; chưa có vợ, con; tiền án: Không, tiền sự: Có 01 tiền sự; nhân thân: Ngày 29/01/2019 bị Ủy ban nhân dân xã B, huyện V ra Quyết áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường, thị trấn (chưa được xóa); ngày 27/8/2020 bị Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Lạng Sơn ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng (chưa thi hành). Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/9/2020 đến nay. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Phương Văn H1, sinh năm 1969; trú tại: Thôn N, xã B, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

Người tham gia tố tụng khác:

Người chứng kiến:

Anh Vy Văn H2, sinh năm 1981. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 28/7/2020, Công an xã B, huyện Văn Lãng chủ trì phối hợp với tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an huyện Văn Lãng, đang làm nhiệm vụ tại khu vực liên xã T1 - B, thuộc địa phận thôn B, xã T1, huyện V phát hiện 02 thanh niên điều khiển xe mô tô theo hướng xã T1 - B, có biểu hiện nghi vấn, tổ công tác ra tín hiệu yêu cầu dừng xe kiểm tra, lái xe giảm tốc độ, khi cách tổ công tác khoảng 03 mét, thì 02 thanh niên bỏ xe và bỏ chạy. Tổ công tác bắt giữ được thanh niên ngồi đằng sau, tự khai là Hà Văn V, sinh năm 2000, trú tại thôn N, xã B, huyện V và khai nhận người điều khiển xe mô tô bỏ chạy là Phương Văn N, sinh năm 1996 ở cùng thôn, chiếc xe mô tô là xe của Phương Văn N. Qua kiểm tra tổ công tác phát hiện trên mặt đường cạnh tay lái xe mô tô của Phương Văn N đang nằm trên mặt đường, có 01 gói nilon màu xanh, tổ công tác nhặt gói nilon lên mở ra kiểm tra, phát hiện bên trong có 01 gói giấy kẻ dòng màu trắng, bên trong chứa nhiều cục màu trắng, nghi là ma túy. Hà Văn V khai nhận các cục bột màu trắng trong gói giấy là ma túy Heroine của Phương Văn N mua với 01 người đàn ông khoảng 38 tuổi (không biết họ tên, địa chỉ) tại thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, ngày 28/7/2020 để đem về sử dụng, Tổ công tác đã đưa Hà Văn V cùng tang vật về trụ sở Ủy ban nhân dân xã T1, huyện V lập biên bản sự việc và tạm thu giữ đồ vật, tài liệu gồm: 01 túi nilon màu xanh, bên trong có 01 gói giấy kẻ dòng màu trắng, trong gói giấy chứa các cục, chất bột màu trắng nghi là ma túy Heroine, niêm phong trong 01 phong bì ký hiệu bằng chữ viết tay “SV Hà Văn V”; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVES, màu đỏ, đã qua sử dụng, biển kiểm soát 12V*-02*.**.

Tại bản kết luận giám định số: 272/KL-PC09, ngày 10/9/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất cục, bột màu trắng là chất ma túy Heroine, có khối lượng 3,088 gam (đã trừ bì).

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, Cơ quan cảnh sát điều tra Công huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đã quyết khởi tố vụ án, khởi tố bị can, ra lệnh bắt tạm giam đối với Phương Văn N, Hà Văn V. Tạm giữ của Phương Văn N 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Viettel màu đen, viền màu xanh, model V6317, bên trong lắp 01 sim Vinaphone.

Tại cơ quan điều tra các bị cáo Phương Văn N, Hà Văn V đều khai nhận: Khoảng 08 giờ ngày 28/7/2020, Phương Văn N gọi điện thoại rủ Hà Văn V đi mua ma túy về nhằm mục đích sử dụng. Sau đó Phương Văn N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVES màu đỏ, mang biển kiểm soát 12V*-02*.** chở Hà Văn V đến thị trấn N, huyện V, Phương Văn N vào quầy thuốc mua 02 bơm kim tiêm, 01 lọ nước cất. Mua xong Phương Văn N tiếp tục điều khiển xe mô tô chở Hà Văn V đến thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Trên đường đi Phương Văn N gọi điện thoại cho 01 người đàn ông tên H3 trao đổi về việc mua ma túy và nói đang đợi ở đầu cầu Đ. Khi đến đầu cầu, Phương Văn N bảo Hà Văn V xuống xe đợi, còn Phương Văn N một mình đi xe sang phía bên kia đầu cầu mua được 01 gói nilon màu xanh chứa ma túy với người đàn ông tên H3 với giá 2.800.000 (hai triệu tám trăm nghìn) đồng, sau đó Phương Văn N quay lại đón Hà Văn V. Trên đường về, khi đi đến đoạn gần cầu N thuộc thôn N, xã T2, huyện V, thì Phương Văn N dừng xe lại ở cạnh đường rồi cùng Hà Văn V lấy một ít ma túy từ trong gói ma túy vừa mua được cùng nhau sử dụng. Sau khi sử dụng xong, Phương Văn N gói số ma túy lại đưa Hà Văn V cầm ở trên tay, nhằm mục đích nếu bị lực lượng chức năng kiểm tra thì dễ dàng vứt bỏ gói ma túy, còn Phương Văn N điều khiển xe mô tô. Khi đi đến ngã 3 thuộc thôn B, xã T1, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, thì bị tổ công tác Công an xã B và Công an huyện Văn Lãng đang làm nhiệm vụ yêu cầu dừng xe lại để kiểm tra, Phương Văn N đã dừng xe lại bỏ chạy thoát, còn Hà Văn V vứt gói ma túy đang cầm trên tay xuống dưới đường bỏ chạy, nhưng bị bắt giữ.

Tại bản cáo trạng số 82/CT-VKS ngày 24/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố các bị cáo Phương Văn N, Hà Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Các bị cáo Phương Văn N, Hà Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình, như cáo trạng đã nêu. Các bị cáo thấy việc làm của mình là sai vi phạm pháp luật, tỏ ra ăn năn hối cải.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với các bị cáo Phương Văn N, Hà Văn V, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố các bị cáo Phương Văn N, Hà Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị xử phạt các bị cáo mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định; tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Viettel màu đen, viền màu xanh, model V6317, bên trong lắp 01 sim Vinaphone.

Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Hành vi cấu thành tội phạm của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại phiên tòa các bị cáo Phương Văn N, Hà Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận của các bị cáo với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người chứng kiến và tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định. Khoảng 11 giờ ngày 28/7/2020, Công an xã B phối hợp với tổ công tác Công an huyện Văn Lãng đang làm nhiệm vụ tại khu vực thôn B, xã T1, huyện V, phát hiện Phương Văn N điều khiển xe mô tô chở Hà Văn V theo hướng xã T1 - B, có biểu hiện nghi vấn, tổ công tác yêu cầu dừng xe lại để kiểm tra, Phương Văn N đã dừng xe lại bỏ chạy thoát, còn Hà Văn V vứt gói ma túy đang cầm trên tay xuống dưới đường bỏ chạy nhưng bị bắt giữ. Tổ công tác đã đưa Hà Văn V cùng tang vật về trụ sở Ủy ban nhân dân xã T1, huyện V, tỉnh Lạng Sơn lập biên bản. Qua giám định chất cục, bột màu trắng là chất ma túy Heroine, có khối lượng 3,088 gam (đã trừ bì). Vì vậy, hành vi của các bị cáo Phương Văn N, Hà Văn V có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định của Bộ luật Hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng truy tố các bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét về vai trò của từng bị cáo: Các bị cáo thực hiện hành vi có đồng phạm, nhưng là đồng phạm giản đơn, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Phương Văn N là người khởi xướng dùng phương tiện xe mô tô chở Hà Văn V đi mua ma túy và bỏ ra số tiền 2.800.000 đồng để mua ma túy, bị cáo Hà Văn V, là đồng phạm, đi cùng bị cáo Phương Văn N mua ma túy, được sử dụng ma túy cùng bị cáo Phương Văn N và bị cáo Hà Văn V là người trực tiếp cầm ma túy trên tay, nên vai trò trách nhiệm hình sự là như nhau.

Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tại địa phương và xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo với mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra, mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa giáo dục chung. Tuy vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét đánh giá về nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo Phương Văn N chưa có tiền án; tiền sự. Về tình tiết tăng nặng không có. Về tình tiết giảm nhẹ bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ, là người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo Hà Văn V chưa có tiền án; có 01 tiền sự ngày Ngày 29/01/2019 bị Ủy ban nhân dân xã B, huyện V ra Quyết áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường, thị trấn (chưa được xóa); ngày 27/8/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng (chưa thi hành). Tuy người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đã thực hiện hành vi phạm tội trước, nhưng đến 11/9/2020 Cơ quan điều tra mới ra quyết định khởi tố vụ án và ra lệnh bắt tạm giam đối với bị cáo, sau khi Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Bị cáo Hà Văn V là người có nhân thân xấu. Về tình tiết tăng nặng không có. Về tình tiết giảm nhẹ bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ, là người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Hội đồng xét xử xét thấy bản thân các bị cáo không sở hữu tài sản gì có giá trị (thể hiện tại kết quả xác minh ngày 07/10/2020). Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Đối với người đàn ông tên H3 bán ma túy cho bị cáo Phương Văn N tại thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, nhưng bị cáo Phương Văn N không biết lai lịch cụ thể của người đàn ông trên, nên Cơ quan điều tra không tiến hành xác minh làm rõ được.

Đối với ông Phương Văn H1 là bố đẻ của bị cáo Phương Văn N, đứng tên chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12V*-02*.**, nhưng ông Phương Văn H1 không biết bị cáo Phương Văn N mang xe chở Hà Văn V đi mua ma túy về tàng trữ, sử dụng, nên không liên quan.

Về vật chứng của vụ án Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 12V*-02*.**, Cơ quan điều tra đã trả cho bà Hoàng Thị T là người đại diện theo ủy quyền của ông Phương Văn H1 (theo biên bản trả lại tài sản ngày 20/10/2020), nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết nữa. Đối với số ma túy hoàn lại mẫu vật sau giám định niêm phong trong 01 phong bì in chữ “CÔNG AN HUYỆN VĂN LÃNG” cũ, có chữ ký cùng tên giám định viên Hoàng Mạnh Hà, trợ lý giám định và các hình dấu của phòng kỹ thuật hình sự , tại phần giáp lai mới. Bên trong có 01 gói giấy đựng 2,893 gam Heroine (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và các vỏ bao gói, là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, cần tịch thu, tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu đen, viền màu xanh, model V6317, bên trong lắp 01 sim Vinaphone, bị cáo Phương Văn N đã sử dụng liên lạc vào việc phạm tội, tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị mức án, xử lý vật chứng là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Về án phí: Các bị cáo bị kết án, nên phải chịu án phí hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 17, Điều 58, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ khoản 1, điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Phương Văn N, Hà Văn V phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt:

1- Xử phạt bị cáo Phương Văn N 02 (hai) năm tù, thời hạn tính từ ngày 15 tháng 9 năm 2020.

2- Xử phạt bị cáo Hà Văn V 02 (hai) năm tù, thời hạn tính từ ngày 15 tháng 9 năm 2020.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiệu hủy: 01 phong bì in chữ “CÔNG AN HUYỆN VĂN LÃNG” cũ, có chữ ký cùng tên giám định viên Hoàng Mạnh Hà, trợ lý giám định và các hình dấu của phòng kỹ thuật hình sự, tại phần giáp lai mới. Bên trong có 01 gói giấy đựng 2,893 gam Heroine (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và các vỏ bao gói .

Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu đen, viền màu xanh, model V6317, số imei1 có bốn số cuối là 1140, số imei2 có bốn số cuối là 1157, bên trong lắp 01 sim Vinaphone.

(Các vật chứng trên đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn, theo biên bảo giao nhận vật chứng ngày 26/11/2020).

4. Về án phí: Buộc các bị cáo Phương Văn N, Hà Văn V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp Nhà nước.

Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ