- Tranh chấp gì? án hình sự — "võ văn t - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 86/2019/HS-ST Ngày 09/4/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN - TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Tố Uyên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Nhuận
Bà Lê Thị Thiện
- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Phạm Thanh Trang là Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Mai Chiến Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công Ki vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 57/2019/TLST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2019 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 79/2019/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Võ Văn T, sinh năm 1981 tại tỉnh A; nơi thƣờng trú: Ấp Trung Phú 3, xã V, huyện T, tỉnh A; nơi tạm trú: Số 14/A5 khu phố 3, phƣờng A1, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Hồng Đ, sinh năm 1944 và bà Phạm Thị A1 (chết); vợ tên Trần Thị Kim Ngọc D, sinh năm 1986; bị cáo có 02 ngƣời con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú từ ngày 27/11/2018, (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Bị hại:
1. Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1996; địa chỉ thƣờng trú: Xóm 6, xã Thạch Bằng, huyện L, tỉnh H; tạm trú: Số 282/3 khu phố 2, phƣờng A1, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. Có yêu cầu xét xử vắng mặt.
2. Ông Thạch N, sinh năm 1991; địa chỉ thƣờng trú: Ấp Tà Ân A1, xã Thuận H, huyện M, tỉnh S; tạm trú: Số 282/3 khu phố 2, phƣờng A1, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. Có yêu cầu xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Thanh L, sinh năm 1981; địa chỉ thƣờng trú: Số 144/3 Đ Phan Đình Phùng, khu phố L1, phƣờng L2, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. Có yêu cầu xét xử vắng mặt.
2. Ông Phạm Minh K, sinh năm 1983; địa chỉ thƣờng trú: Số 21/8 khu phố B, phƣờng B1, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. Có yêu cầu xét xử vắng mặt.
3. Ông Từ Văn C, sinh năm 1981; địa chỉ thƣờng trú: Số 282/3 khu phố 2, phƣờng A1, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. Có yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Võ Văn T, Nguyễn Văn Đ và Thạch N là bạn bè quen biết do làm chung công ty với nhau. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 21/10/2018, T đi bộ đến phòng trọ số 13 của ông Đ, ông N tại địa chỉ số 282/3 khu phố 2, phƣờng A1, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng để rủ ông Đ và ông N đi chơi bida. Khi đến nơi, T thấy cửa phòng không khóa, nhìn vào bên trong thấy ông Đ và ông N đang nằm ngủ dƣới nền gạch, bên cạnh ông Đ có để 01 điện thoại di động hiệu Samsung G532 màu xám – vàng của ông N và 01 điện thoại di động hiệu Samsung A6 Plus màu đen của ông Đ nên T nãy sinh ý định chiếm đoạt 02 điện thoại trên. T lén lút đi vào bên trong phòng dùng tay lấy 02 điện thoại di động bỏ vào túi rồi đi về phòng trọ của T nằm ngủ.
Đến khoảng 13 giờ 00 phút ngày 22/10/2018, T đem điện thoại di động hiệu Samsung G532 đến Cửa hàng điện thoại di động Minh K bán với giá 1.800.000 đồng, sau đó tiếp tục đến Cửa hàng điện thoại di động Q bán điện thoại di động hiệu Samsung A6 Plus với giá 2.800.000 đồng. Số tiền bán đƣợc điện thoại chiếm đoạt đƣợc T đã tiêu xài hết 200.000 đồng.
Đối với ông Đ và ông N sau khi tỉnh dậy không tìm thấy điện thoại, nghi ngờ bị mất trộm nên đã yêu cầu ông Từ Văn C là chủ cơ sở trọ mở camera kiểm tra thì phát hiện Võ Văn T đã vào phòng của ông C và ông N vào lúc 17 giờ 30 phút ngày 21/10/2018 và trở ra lại sau đó 5 phút nên đã báo sự việc đến công an giải quyết.
Quá trình điều tra, Võ Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi chiếm đoạt tài sản của ông Nguyễn Văn Đ và ông Thạch N.
Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm: 01 điện thoại di động Samsung G532 màu xám – vàng; 01 điện thoại di động Samsung A6 Plus màu đen; 01 USB hiệu Kingston màu xanh; tổng số tiền 4.600.000 đồng.
Tại Biên bản định giá tài sản và kết luận định giá tài sản ngày 09/11/2018 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thị xã Thuận An kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Samsung G532 màu xám – vàng trị giá 4.900.000 đồng; 01 điện thoại di động Samsung A6 Plus màu đen trị giá 7.400.000 đồng; tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 12.300.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số 81/CT-VKS-TA ngày 26 tháng 02 năm 2019 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Võ Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điểm h, i, s, Khoản 1, Khoản 2, Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Võ Văn T mức án từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo với thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản chiếm đoạt đã đƣợc thu hồi trả cho chủ sở hữu, bị hại không yêu cầu bồi thƣờng nên không đề nghị xem xét.
Về xử lý vật chứng: 01 USB hiệu Kingston màu xanh là vật chứng đề nghị lƣu giữ theo hồ sơ vụ án.
Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện Kiểm sát. Lời nói sau cùng của bị cáo trƣớc khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo vì một phút lỡ lầm mà có hành vi vi phạm pháp luật, bị cáo vô cùng ăn năn, hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án nhẹ để bị cáo còn chăm lo cho hai con nhỏ và làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Thuận An, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà, bị cáo Võ Văn T đã thành khẩn Ki nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời Ki của bị cáo phù hợp với các tình tiết nhƣ bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời Ki của bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án về thời gian địa điểm, quá trình thực hiện hành vi phạm tội và tài sản đã chiếm đoạt. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 21/10/2018, tại địa chỉ số 282/3 khu phố 2, phƣờng A1, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng lợi dụng lúc bị hại Nguyễn Văn Đ và Thạch N ngủ say và không khóa cửa phòng, bị cáo Võ Văn T đã lén lút chiếm đoạt của bị hại Nguyễn Văn Đ 01 điện thoại di động hiệu Samsung A6 Plus và 01 điện thoại di động hiệu Samsung G532 của bị hại Thạch N có tổng trị giá 12.300.000 đồng. Hành vi trên của bị cáo Võ Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, cáo trạng truy tố bị cáo Võ Văn T với tội danh và khung hình phạt nêu trên là đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phƣơng. Bị cáo nhận thức đƣợc hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại là vi phạm pháp luật hình sự nhƣng vì tham lam, tƣ lợi, bị cáo vẫn cố tình thực hiện, cho thấy thái độ xem thƣờng pháp luật. Do đó, xét thấy cần phải có mức án tƣơng xứng với hành vi phạm tội để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Tuy vậy, khi quyết định hình phạt cần xem xét đầy đủ về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xem xét cho bị cáo mức án tƣơng xứng với hậu quả hành vi của bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chƣa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn Ki báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhƣng chƣa gây thiệt hại do tài sản chiếm đoạt đã đƣợc thu hồi trả lại cho bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, là công nhân, ở trọ và đang nuôi hai ngƣời con nhỏ đi học, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Mặt khác, bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt mang tính bộc phát nhất thời và đƣợc bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trên thuộc Điểm h, i, s, Khoản 1, Khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét bị cáo có nơi cƣ trú rõ ràng, quá trình bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cƣ trú bị cáo chấp hành tốt yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền, việc cho bị cáo đƣợc tại ngoại không ảnh hƣởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn tại địa phƣơng nên xét thấy không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), cho bị cáo đƣợc hƣởng án treo để đảm bảo tính khoan hồng của pháp luật.
Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo cũng nhƣ phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận
Đối với ông Phạm Minh K và Nguyễn Thanh L không biết điện thoại bị cáo T bán cho ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là tài sản do trộm cắp mà có nên không xem xét trách nhiệm hình sự đối với ông K và ông L là có cơ sở.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 điện thoại di động Samsung G532 màu xám – vàng của bị hại Thạch N và 01 điện thoại di động Samsung A6 Plus màu đen của bị hại Nguyễn Văn Đ quá trình điều tra đã trả lại cho các bị hại nên không đặt ra xem xét.
Đối với số tiền 4.600.000 đồng thu giữ của bị cáo T nhận đƣợc từ ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan L và K khi bán điện thoại nên cơ quan cảnh sát điều tra trả lại số tiền trên cho ông L và ông K là có cơ sở.
Đối với 01 USB hiệu Kingston màu xanh là tài sản của ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Từ Văn C. Ông C giao nộp để phục vụ công tác giải quyết vụ án nên không yêu cầu nhận lại. Xét dữ liệu lƣu trữ trong USB nêu trên là vật chứng trong vụ án nên cần lƣu giữ theo hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Văn Đ và Thạch N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo T phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 173; Điểm h, i, s Khoản 1, Khoản 2, Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Điều 106, 136, 260, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Võ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Võ Văn T 01 (một) năm tù nhƣng cho hƣởng án treo với thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Võ Văn T cho Ủy ban nhân dân phƣờng A1, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì Ủy ban nhân dân phƣờng A1, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng phải thông báo cho Cơ quan thi hành án hình sự thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng để tiến hành thủ tục theo quy định tại Khoản 1, Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng: Lƣu giữ theo hồ sơ vụ án 01 (một) USB hiệu Kingston màu xanh.
3. Về án phí: Bị cáo Võ Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đƣợc quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bị hại nhận đƣợc bản án hoặc kể từ ngày bản án đƣợc niêm yết theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - Phòng PV 27 CA tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thị xã Thuận An; - Công an thị xã Thuận An; - Chi cục THADS thị xã Thuận An; - UBND phƣờng A1, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng; - Bị cáo; bị hại; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lƣu: HS, THAHS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tố Uyên |