vanban.org

Bản án 86/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị Tuyết A về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” với anh Nguyễn Hoàng S.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị Tuyết A được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng S. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Vũ Trúc A, sinh ngày 18/12/2008 và cháu Nguyễn Vũ Nguyên K, sinh ngày: 13/3/2014 cho chị Vũ Thị Tuyết A nuôi dưỡng, anh Nguyễn Hoàng S tạm thời không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị A yêu cầu ly hôn với anh S, anh S không đến Tòa, có con chung, tàn sản chung, nợ chung không có."
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị Tuyết A về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” với anh Nguyễn Hoàng S.
  • Căn cứ chính? Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 05/11/2019
V/v: “Ly hôn và tranh chấp nuôi
con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM - TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Xuân Tuất.

Bà Trần Thị Hồng Thảo.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Tình – Kiểm sát viên sơ cấp.

Ngày 05 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 512/2019/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2019 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/10/2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 123/2019/QĐST-HNGĐ ngày 18/10/2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Tuyết A, sinh năm: 1986.

Địa chỉ: Số 19, tổ 18, khu phố 2, phường A, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng S, sinh năm: 1981.

Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

(chị A có mặt, anh S vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Nguyên đơn chị Vũ Thị Tuyết A trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Hoàng S tự nguyện thương yêu nhau và chung sống có đăng ký kết hôn tại UBND phường A, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào năm 2007.

Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn do anh S không chăm lo cho gia đình, thường xuyên ăn nhậu, chị có khuyên bảo nhưng anh S không thay đổi và anh chị ly thân đã gần 01 năm nên chị yêu cầu được ly hôn với anh S.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Vũ Trúc A, sinh ngày 18/12/2008 và Nguyễn Vũ Nguyên K, sinh ngày: 13/3/2014. Ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu anh S cấp dưỡng.

Tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Anh Nguyễn Hoàng S trình bày:

Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh S làm việc nhưng anh S vắng mặt không có lý do nên không có trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thủ tục hòa giải, thời hạn chuẩn bị xét xử, quyết định xét xử, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, cấp, tống đạt các văn bản tố tụng; việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng được Tòa án thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đơn khởi kiện xin ly hôn của chị A là có cơ sở chấp nhận nên đề nghị cho chị A được ly hôn với anh S. Về con chung: Giao con chung cho chị A nuôi dưỡng, anh S tạm thời không phải cấp dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự trình bày không có nên đề nghị không đặt ra xem xét. Về án phí: Chị A phải nộp án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Chị Vũ Thị Tuyết A nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Hoàng S, sinh năm: 1981, địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện Trảng Bom, Đồng Nai nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì quan hệ là “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.

Về thủ tục tố tụng:

Chị Vũ Thị Tuyết A nộp đơn đúng trình tự thủ tục nên được thụ lý, giải quyết.

Anh Nguyễn Hoàng S vắng mặt không có lý do nên căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh S.

Về yêu cầu khởi kiện:

3.1 - Về quan hệ hôn nhân:

Chị A và anh S tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn, được UBND phường An Bình, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 42 ngày 16/3/2007 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay: Chị A tiếp tục xin ly hôn với anh S vì chị nhận thấy mâu thuẫn không thể hàn gắn, hôn nhân không hạnh phúc và đã ly thân từ được khoảng 01 năm. Đồng thời, anh S đã được Tòa án triệu tập làm việc nhiều lần nhưng anh S vẫn vắng mặt thể hiện anh S không có mong muốn hòa giải, đoàn tụ. Từ những căn cứ trên, xét mâu thuẫn giữa chị A và anh S là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị A yêu cầu ly hôn với anh S là có cơ sở, phù hợp quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

3.2 - Về con chung:

Anh chị có hai con chung là là cháu Nguyễn Vũ Trúc A, sinh ngày 18/12/2008 và Nguyễn Vũ Nguyên K, sinh ngày: 13/3/2014. Ly hôn chị A yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu anh S cấp dưỡng; cháu A cũng có nguyện vọng được sống cùng mẹ; chị A hiện nay có công việc với mức thu nhập 8.500.000 đồng/tháng và có sự hỗ trợ từ cha mẹ ruột nên giao hai con chung cho chị A nuôi dưỡng sẽ đảm bảo điều kiện sống cho các cháu nên chấp nhận yêu cầu về con chung của chị A.

3.3 - Về tài sản chung, nợ chung: Chị A trình bày không có tài sản chung, nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị A phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, 35, 39, 147, 220, 227, 228, 264 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 118 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị Tuyết A về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” với anh Nguyễn Hoàng S.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị Tuyết A được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng S.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Vũ Trúc A, sinh ngày 18/12/2008 và cháu Nguyễn Vũ Nguyên K, sinh ngày: 13/3/2014 cho chị Vũ Thị Tuyết A nuôi dưỡng, anh Nguyễn Hoàng S tạm thời không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Nguyễn Hoàng S được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung khi cần thiết các đương sự được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Vũ Thị Tuyết A phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình, nhưng được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 006809 ngày 12/7/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom. Chị Vũ Thị Tuyết A đã nộp đủ án phí.

5. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ