- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Kiềm- QUỳnh"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ vợ chồng: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyễn Văn K với bà Huỳnh Thị Ngọc Q.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 86/2019/HNGĐ-ST Ngày: 23/01/2019 V/v tranh chấp về ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Định
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thúy Oanh
2. Bà Nguyễn Thị Nguyên
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.
Ngày 23 tháng 01 năm 2019, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 427/2018/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2018 về việc “Tranh chấp về ly hôn ” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 540/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2018 và quyết định hoãn phiên tòa số 03/2019/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2019 giữa:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm: 1982.
Địa chỉ: ấp 6C, xã A, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Ngọc Q, sinh năm: 1985.
Địa chỉ: ấp 6, xã A, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.
(ông K và bà Q vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn ngày 28/3/2018, bản tự khai ngày 31/5/2018 và biên bản về việc không tiến hành hòa giải đƣợc – nguyên đơn ông Nguyễn Văn K trình bày: Ông và bà Huỳnh Thị Ngọc Q chung sống với nhau từ năm 2008, có tổ chức đám cưới, do tự tìm hiểu và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Thời gian đầu ông bà chung sống hạnh phúc, không có gì xảy ra. Đến năm 2016, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng hay cãi vã nhau. Bà Q đã bỏ nhà đi từ năm 2016, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Ông K đã cố gắng bỏ qua để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng bà Q vẫn không quay về với gia đình, mối quan hệ hôn nhân giữa ông và bà Q ngày càng xấu đi. Xét thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, nay ông yêu cầu được ly hôn với bà Q.
Về con chung: Ông K và bà Q có 02 con chung tên Nguyễn Huỳnh Phương Thảo, sinh ngày: 17/5/2009 và Nguyễn Huỳnh Bảo Ngọc, sinh ngày: 26/7/2013. Sau khi ly hôn, ông K yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 trẻ và không yêu cầu bà Q cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung: Ông K tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ông K xác nhận không có.
Bà Huỳnh Thị Ngọc Q vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của bà Q.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Nguyễn Văn K nộp đơn xin ly hôn đối với bà Huỳnh Thị Ngọc Q. Bà Huỳnh Thị Ngọc Q hiện đang cư trú tại huyện Bình Chánh. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh.
Bà Huỳnh Thị Ngọc Q đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Huỳnh Thị Ngọc Q theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Ông Nguyễn Văn K có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông K theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng mời bà Huỳnh Thị Ngọc Q đến Tòa án để giải quyết vụ án tranh chấp về ly hôn giữa ông Nguyễn Văn K và bà Huỳnh Thị Ngọc Q nhưng bà Q không đến Tòa án để giải quyết. Vì vậy, bà Huỳnh Thị Ngọc Q tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình. Do đó, bà Huỳnh Thị Ngọc Q phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về quan hệ vợ chồng: Theo giấy chứng nhận kết hôn số 47, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã L, huyện Y, tỉnh Đ cấp ngày 25/11/2007 có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa ông Nguyễn Văn K và bà Huỳnh Thị Ngọc Q là hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Ông K xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng giữa ông và bà Q không thể hàn gắn được, nên ông yêu cầu được ly hôn với bà Q để mỗi người tạo dựng cuộc sống riêng. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu trên hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Bởi lẽ, theo lời trình bày của ông K thì giữa ông và bà Q bất đồng quan điểm sống, tính tình không còn hòa hợp, mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng thường xuyên cãi vã, bà Q đã bỏ nhà đi từ năm 2016, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Như vậy vợ chồng không còn sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau vun đắp hạnh phúc gia đình. Mặt khác, trong quá trình hòa giải tại Tòa, bà Q cũng không đến Tòa án tham gia tố tụng theo giấy triệu tập để Tòa án hòa giải, động viên hai bên đoàn tụ, hàn gắn tình cảm vợ chồng, điều này chứng tỏ giữa hai người đã không còn tình cảm và đều không có thiện chí để đoàn tụ. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Văn K đối với bà Huỳnh Thị Ngọc Q.
Về con chung: Ông Nguyễn Văn K và bà Huỳnh Thị Ngọc Q có 02 con chung tên Nguyễn Huỳnh Phương T, sinh ngày: 17/5/2009 và Nguyễn Huỳnh Bảo N, sinh ngày: 26/7/2013. Sau khi ly hôn, ông K yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 trẻ và không yêu cầu bà Q cấp dưỡng nuôi con. Hiện cả 02 trẻ đang sống chung với ông K, ông K là người chăm sóc tốt cho 02 trẻ, đồng thời ý kiến của trẻ T nếu ba mẹ không còn chung sống với nhau nữa thì trẻ T muốn sống với cha. Do đó, Hội đồng xét xử nghĩ nên giao trẻ Nguyễn Huỳnh Phương T, sinh ngày: 17/5/2009 và Nguyễn Huỳnh Bảo N, sinh ngày: 26/7/2013 cho ông K trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với bà Q cho đến khi ông K có yêu cầu.
Về tài sản chung: Ông K yêu cầu tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Ông K xác nhận không có.
Về án phí: Ông Nguyễn Văn K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 203, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1.Về quan hệ vợ chồng: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyễn Văn K với bà Huỳnh Thị Ngọc Q.
Ông Nguyễn Văn K được ly hôn với bà Huỳnh Thị Ngọc Q.
Giấy chứng nhận kết hôn số 47, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã L, huyện Y, tỉnh Đ cấp ngày 25/11/2007 không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung: Ông Nguyễn Văn K và bà Huỳnh Thị Ngọc Q có 02 con chung tên Nguyễn Huỳnh Phương T, sinh ngày: 17/5/2009 và Nguyễn Huỳnh Bảo N, sinh ngày: 26/7/2013. Giao trẻ T và trẻ N cho ông K tiếp tục nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với bà Q cho đến khi ông K có yêu cầu.
Bà Huỳnh Thị Ngọc Q có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con sau này theo quy định tại Điều 83, Điều 84 và Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
3. Về tài sản chung: Ông K yêu cầu tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
4. Về nợ chung: Ông K xác nhận không có.
5. Về án phí: Ông Nguyễn Văn K chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà ông K đã nộp theo biên lai thu số 0031773 ngày 09/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh. Ông K đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND H.BC; - THADS H.BC; - Cơ quan đăng ký kết hôn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | Phạm Thị Kim Định |