vanban.org

Bản án 86/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Qui Nhơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 07/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc A phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc A 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 89, 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Trả lại cho bị cáo: Xe máy hiệu Yamaha-Sirius biển số 77G1-344.79 màu đỏ - đen, số khung: C6K0FY-226611, số máy: 5C6K-226607, đã qua sử dụng.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc A - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc A phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc A 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUY NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----oo0oo-----
Bản án số: 86/2018/HSST
Ngày : 07/9/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN-TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đình Hưng

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Bích Hợp

2. Ông Hồ Đắc Toàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Tú - Thư ký của Toà án nhân dân Tp. Quy Nhơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Ông Trần An Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân, TP Quy Nhơn tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 86/2018/HSST ngày 25/7/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2018/QĐXXST-HS ngày 22/8/2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: NGUYỄN NGỌC A, sinh năm 1991 tại huyện TP, Bình Định; Trú tại: Thôn A, xã B, huyện TP, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Kim L (chết); Con bà: Đặng Thị H, sinh năm 1964; Vợ: Huỳnh Thị Mỹ Th, sinh năm 1993, có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi ư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

Ông Nguyễn Đăng D, sinh năm 1968 “Vắng mặt”.

Trú tại: Tổ 10, KV4, phường Trần Quang Diệu, TP. Quy Nhơn, Bình Định.

- Người tham gia tố tụng khác:

Chị Huỳnh Thị Mỹ Th

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 28/4/2018, Nguyễn Ngọc A điều khiển xe mô tô biển số 77G1-344.79 (xe do A đứng tên đăng ký) đi dạo khu vực Phú Tài, TP. Quy Nhơn tìm nhà nào sơ hở thì đột nhập vào bên trong trộm cắp tài sản. Khoảng 23 giờ cùng ngày, A phát hiện nhà ông Nguyễn Đăng D (số A đường Lạc Long Quân, TP. Quy Nhơn) tắt điện nên A tìm cách đột nhập. A dựng xe mô tô trên lề đường rồi men theo hẻm nhỏ bên cạnh ra phía sau nhà, trèo tường vào sân sau nhà anh D. A thấy cạnh nhà tắn dựng thẳng 01 cái thang sắt, A trèo lên thang sắt chui vào lỗ thông gió nhà tắm rồi đột nhập vào bên trong nhà, A lục tìm tài sản và lấy được 01 điện thoại Iphone 4S màu trắng kèm bộ sạc Iphone; 01 máy tính bàng Ipad 4 16Gb kèm bộ sạc; 01 máy tính xách tay hiệu Dell Inspiron 3241 màu đen kèm bộ sạc rồi mở của nhà bên đi ra bên ngoài đem tài sản trộm cắp về nhà cất dấu. Khoảng 05 giờ ngày 29/4/2018, anh D ngủ dậy phát hiện mất trộm tài sản liền bật định vị Ipad thì phát hiện tài sản bị mất trộm đang ở nhà bị cáo A nên báo cáo Công an phường TQD, TP. Quy Nhơn giải quyết.

Ngày 19/5/2018, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự TP. Quy Nhơn kết luận: 01 điện thoại Iphone 4S và bộ sạc điện thoại trị giá 1.000.000đ; 01 máy tính bảng Ipad4 màu xám 16Gb và bộ sạc máy tình bảng trị giá 3.500.000đ; 01 máy tính xách tay hiệu Dell Inspiron 3241 core 3, màu đen và bộ sạc máy tính xách tay trị giá 4.000.000đ. Tổng trị giá 8.500.000đ.

Cơ quan CSĐT Công an TP. Quy Nhơn đã thu hồi toàn bộ tài sản do bị cáo A trộm cắp và giao trả lại cho bị hại Nguyễn Đăng D, ông D đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Hiện đang tạm giữ của bị cáo xe mô tô hiệu Yamaha-Sirius màu đỏ - đen, biển số 77G1-344.79.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội.

- Tại bản cáo trạng số 92/CT - VKS ngày 24/7/2018 Viện kiểm sát nhân dân Tp. Quy Nhơn truy tố Nguyễn Ngọc A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Ngọc A về tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt Nguyễn Ngọc A từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Về bồi thường thiệt hại: Ông D đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX trả lại cho bị cáo xe mô tô hiệu Yamaha-Sirius màu đỏ - đen, biển số 77G1-344.79.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Quy Nhơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vào đêm ngày 28/4/2018, Nguyễn Ngọc A đột nhập vào nhà ông Nguyễn Đăng D (số A Lạc Long Quân, TP. Quy Nhơn) lấy trộm 01 điện thoại Iphone 4S màu trắng kèm bộ sạc Iphone; 01 máy tính bàng Ipad 4 16Gb kèm bộ sạc; 01 máy tính xách tay hiệu Dell Inspiron 3241 màu đen kèm bộ sạc rồi đem tài sản trộm cắp về nhà cất dấu. Ngày 19/5/2018, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự TP. Quy Nhơn kết luận số tài sản bị cáo trộm cắp tại nhà ông D có tổng trị giá 8.500.000đ.

Bị cáo Nguyễn Ngọc A có đầy đủ sức khỏe, năng lực để nhận thức và điều khiển hành vi của mình nên phải biết trộm cắp tài sản hợp pháp của người khác là hành vi vi phạm pháp luật, nhưng do tham lam, xem thường pháp luật muốn có tiền tiêu xài cá nhân bị cáo đã đột nhập vào nhà ông Nguyễn Đăng D trộm cắp nhiều tài sản có trị giá 8.500.000đ. Do đó, bị cáo Nguyễn Ngọc A phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Hành vi do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến tài sản hợp pháp của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trị an ở địa phương nên cần phải xử lý nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên cũng xem xét: Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, thể hiện ăn năn hối cải, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo an tâm cải tạo.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 50.000.000đ”. Tuy nhiên theo tài các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo nghề nghiệp không ổn định, không có tài sản riêng. Vì vậy, HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về bồi thường thiệt hại: Ông D đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo xe mô tô biển số 77G1-344.79. Xét thấy, xe mô tô do bị cáo đứng tên đăng ký nên trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc A phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc A 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 89, 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Trả lại cho bị cáo: Xe máy hiệu Yamaha-Sirius biển số 77G1-344.79 màu đỏ - đen, số khung: C6K0FY-226611, số máy: 5C6K-226607, đã qua sử dụng.

Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 25/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự TP. Quy Nhơn.

3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc A phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Cỡ chữ