vanban.org

Bản án 86/2018/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Khuông Mạnh H đối với chị La Hồng Th

Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn trong quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 07/2012/QĐST-HNGĐ ngày 24/4/2012 của Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai: Giao cháu Khuông Minh Tr (Khuông La Minh Tr) - Sinh ngày 10/5/2011 cho anh Khuông Mạnh … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Vụ kiện "Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn" giữa anh Khuông Mạnh H và chị La Hồng Th"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Khuông Mạnh H đối với chị La Hồng Th
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LÀO CAI
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2018/HNGĐ-ST
Ngày 14/8/2018
V/v: “Tranh chấp thay đổi người
trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Lanh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lục Văn Vãn;

2. Bà Vũ Thị Hòa

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 14/8/2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 53/2018/TLST - HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2018 về việc kiện “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2018/QĐXXST - HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Khuông Mạnh H - sinh năm 1978

Địa chỉ: Số nhà 2/11, đường M, quận H, thành phố Hải Phòng. “Có mặt”

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Diệu - Luật sư Văn phòng luật sư Diệu Song

Địa chỉ: Số nhà 575, đường Hoàng Liên, phường Kim Tân, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. “Có mặt"

2. Bị đơn: Chị La Hồng Th - sinh năm 1983

Địa chỉ: Số nhà 043, đường Tr, tổ 32, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. “Có mặt”

3. Những người làm chứng:

+ Ông Hồ Đ

Địa chỉ: Ngõ 11, tổ dân phố M, phường M, quận H, thành phố Hải Phòng. “Vắng mặt”

+ Bà Hà Thị Thùy Gi

Địa chỉ: Trường tiểu học Ng, quận H, thành phố Hải Phòng. “Vắng mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn anh Khuông Mạnh H trình bày: Tại quyết định số 07/2012/QĐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn đã công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Khuông Mạnh H và chị La Hồng Th, giao cho chị La Hồng Th nuôi cháu Khuông Minh Tr (Khuông La Minh Tr). Trong quá trình nuôi dưỡng do chị Th nghề nghiệp tự do, mở trung tâm thẩm mỹ, thể dục thể thao cộng cả việc kinh doanh vận tải hàng hóa cho nên thường xuyên vắng nhà, công việc bận từ sáng sớm đến đêm mới về nhà có khi còn không về nên không có điều kiện chăm sóc cháu Tr, việc chăm sóc cháu đều giao hết cho bà giúp việc từ ăn uống, tắm giặt đến đi học. Chính mẹ đẻ của chị Th cũng thừa nhận cháu Tr ở với anh H thì tốt hơn nên đã vận động chị Th nhiều lần để anh H nuôi cháu nhưng cô Th lúc đồng ý lúc không. Từ lúc còn nhỏ khi 3 tuổi do ít tiếp xúc với xã hội, cháu Tr rất nhút nhát và có lúc gần như tự kỷ do mẹ cháu bận việc chỉ để cháu ở nhà với bà giúp việc có khi bận lại gửi nhà cô giáo mấy ngày liền đi học ở lớp với cô tối về lại ở với cô giáo. Anh H đã tiếp xúc với cô giáo, cô giáo cũng phản ánh về tình trạng, tâm lý của cháu so với các bạn đồng trang lứa cháu có thể trạng yếu hơn và nhút nhát ít giao tiếp với bạn bè, không chơi với ai, không tự tin khi gặp người lạ. Đến nay cháu đã lớn, cách chăm sóc dạy dỗ của mẹ cháu không còn phù hợp đặc biệt khi cháu đi học lớp 1 cần có bố mẹ quan tâm chăm sóc dạy dỗ kèm cặp cháu. Anh H là công chức nhà nước có thu nhập ổn định từ tiền lương, tiền thuê nhà và thu nhập từ việc kinh doanh ngoài là 30.000.000 đồng/tháng, anh H có thời gian để chăm sóc cháu, kèm cặp dạy cháu học và điều kiện kinh tế hơn. Chị Th hiện nay rơi vào tình trạng khủng hoảng về kinh tế làm ăn thất bát liên tục người đến đòi nợ.

Từ tháng 09 năm 2017 chị Th đã đồng ý cho cháu Khuông Minh Tr đã về ở hẳn với anh H đã nhập khẩu cho cháu về chung hộ khẩu với anh H và đăng ký cho cháu học tại Trường Tiểu học Ng, quận H, thành phố Hải Phòng. Từ khi về ở với anh H thể trạng của cháu và khả năng sinh hoạt giao tiếp của cháu tốt hơn. Cháu đã hoạt bát và bắt kịp đà phát triển tâm sinh lý cùng các bạn cùng độ tuổi. Ngoài ra hiện nay chị Th đã sinh thêm con nhỏ. Để thuận tiện cho việc chăm sóc cháu Tr và phù hợp với quy định của pháp luật anh H đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai giải quyết thay đổi người nuôi con, chấp nhận cho anh H nuôi cháu Khuông Minh Tr đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu chị La Hồng Th phải đóng góp nuôi con chung.

Tại bản tự khai, quá trình tham gia tố tụng bị đơn chị La Hồng Th trình bày: Sau khi vợ chồng kết hôn, thời gian có bầu và sinh cháu Tr anh H không quan tâm, chăm sóc bỏ bê mẹ con chị nên vợ chồng đã ly hôn. Từ khi ly hôn đến năm 2017 anh H không gửi tiền cấp dưỡng nuôi con, không qua lại thăm nuôi. Đến năm 2017 do mẹ anh H già yếu, cháu Tr là cháu duy nhất nên từ tháng 8/2017 chị La Hồng Th đã quyết định cho cháu Tr về sống cùng anh H và bà nội và anh H hứa sẽ cho con học trường tốt, nhưng trong thời gian cháu Tr ở với anh H mỗi lần chị Th đến thăm con anh H ngăn cản, dọa nạt. Chị Th đã nói với anh H là sẽ đón cháu Tr về khi học xong lớp 1nên anh H đã làm đơn xin thay đổi quyền nuôi con. Hiện nay anh H có quan hệ bất chính với người phụ nữ có chồng và hai con như vậy là suy đồi đạo đức, là tấm gương xấu cho cháu Tr, anh H bận bịu công việc, mẹ già ốm yếu, người phụ nữ sống cùng anh H có con nhỏ nên không chăm sóc cháu Tr được. Mặt khác anh H không thể có con được nên mới tranh giành quyền nuôi con với chị Th chứ bản thân anh H không thương yêu con. Chị La Hồng Th có đủ điều kiện để nuôi con, chị Th sở hữu 02 nhà 043, 045 Tr, phường C; có 01 câu lạc bộ thẩm mỹ tại 241 đường Ng, làm kinh doanh vận tải có 03 xe tải xuyên tỉnh, 01 cửa hàng kinh doanh quần áo tại số 043A Tr, có bảo hiểm xã hội đóng từ năm 2006. Chị La Hồng Th không nhất trí yêu cầu của anh H xin thay đổi quyền nuôi con.

Tại phiên tòa anh Khuông Mạnh H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Khuông Mạnh H đề nghị Hội đồng xét xử: Xử cho anh Khuông Mạnh H được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Khuông Minh Tr đến khi cháu Tr đủ 18 tuổi, chị La Hồng Th không phải cấp dưỡng nuôi cháu Tr cùng anh H; Bị đơn chị La Hồng Th giữ nguyên ý kiến không nhất trí yêu cầu của anh H xin thay đổi quyền nuôi con.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án các thủ tục tố tụng được tiến hành đầy đủ, đúng quy định. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đúng quy định pháp luật. Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 2; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a, khoản 1 Điều 3; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 81, Điều 82, Điều 83, điểm b, khoản 2 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội xử cho anh Khuông Mạnh H được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Khuông Minh Tr đến khi cháu Tr đủ 18 tuổi, chị La Hồng Th không phải cấp dưỡng nuôi cháu Tr cùng anh H. Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: Anh Khuông Mạnh H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn đối với chị La Hồng Th; địa chỉ tổ 32, phường C, thành phố L. Được xác định mối quan hệ giải quyết là “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo quy định tại khoản 3 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai.

Xét yêu cầu khởi kiện: Anh Khuông Mạnh H khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con, chấp nhận cho anh H nuôi cháu Khuông Minh Tr đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu chị La Hồng Th phải đóng góp nuôi con chung.

Xét điều kiện về nhà ở, thu nhập: Cả anh Khuông Mạnh H, chị La Hồng Th đều có nhà ở ổn định; Anh H là công chức nhà nước có thu nhập ổn định từ tiền lương, tiền thuê nhà và thu nhập từ việc kinh doanh ngoài. Chị La Hồng Th có thu nhập ổn định từ câu lạc bộ thẩm mỹ, kinh doanh vận tải và kinh doanh quần áo.

Điều kiện về việc chăm sóc nuôi dưỡng: Từ tháng 09 năm 2017 đến nay cháu Khuông Minh Tr đã về ở cùng với anh H và được nhập khẩu về chung hộ khẩu với anh H tại Hải Phòng, cháu đang theo học tại Trường Tiểu học Ng, quận H, thành phố Hải Phòng. Tại biên bản xác minh ngày 23/3/2018 (BL 47) cô Hà Thị Thùy Gi xác nhận ý thức học tập, nề nếp tốt, hoàn thành tốt các môn học, tâm sinh lý phát triển bình thường...; Tại đơn xin xác nhận (BL 45) ông Hồ Đ xác nhận từ tháng 9/2107 anh Khuông Mạnh H đón cháu Khuông Minh Tr về nuôi dưỡng, cháu Tr được chăm sóc chu đáo, anh H trực tiếp đưa cháu đi học đều đặn, đúng giờ, dạy bảo cháu lễ phép, anh H là người bố có trách nhiệm...; Để đảm bảo tương lai cho cháu Tr hiện tại anh H mua 03 bảo hiểm cho cháu Tr (01 Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ PRUDENTIAL số 73458971; 02 hợp đồng bảo hiểm Manulife số 2812246815, số 281220059). Đối với chị La Hồng Th thì hiện tại chị Th đã sinh thêm con nhỏ hiện nay mới 3 tháng tuổi.

Về nguyện vọng của cháu Khuông Minh Tr: Tại đơn đề nghị (BL 83) cháu Tr có nguyện vọng xin được ở với anh Khuông Mạnh H; Tại bản tự khai (BL 84) cháu Tr lại có nguyện vọng được ở với mẹ. Như vậy cháu tâm lý cháu Tr chưa ổn định, nên không xác định được nguyện vọng của cháu Tr muốn ở với ai

Từ những phân tích trên thấy rằng để đảm bảo việc học tập, sinh hoạt ổn định, được chăm sóc tốt hơn cần giao cho anh Khuông Mạnh H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Khuông Minh Tr là phù hợp

Về án phí: Chị La Hồng Th phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Từ những nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Khuông Mạnh H đối với chị La Hồng Th

2. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn trong quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 07/2012/QĐST-HNGĐ ngày 24/4/2012 của Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai: Giao cháu Khuông Minh Tr (Khuông La Minh Tr) - Sinh ngày 10/5/2011 cho anh Khuông Mạnh H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi cháu Tr đủ 18 tuổi. Chị La Hồng Th không phải cấp dưỡng tiền nuôi cháu Tr cùng anh H, chị Th có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung ai được quyền ngăn cản

3. Về án phí: Chị La Hồng Th phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Anh Khuông Mạnh H không phải chịu tiền án phí dân sự được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: AB/2012/0004969 ngày 19/3/2018 của chi cục thi hành án dân sự thành phố Lào Cai.

Anh Khuông Mạnh H, chị La Hồng Th được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ