- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quang Phi phạm tội Chứa mại dâm - phạm tội chứa mại dâm (điều 254 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? 1/ Xử: Tuyên bố bị cáo Trần Quang P, phạm tội “Chứa mại dâm”.
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 231 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 254 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B – TP. H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 86/2017/HSST Ngày: 30/9/2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, THÀNH PHỐ H
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
+ Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thƣởng
+ Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Trình, Cán bộ hưu trí thị trấn T, huyện B, thành phố H.
- Ông Vũ Đức Hậu, Cán bộ hưu trí xã Th, huyện B, thành phố H.
+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên tòa: Bà Đào Thanh Huyền, Kiểm sát viên.
+ Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Phƣơng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện B.
Trong ngày 30/9/2017 tại Trụ sở TAND huyện B, thành phố H tiến hành mở phiên tòa sơ thẩm công khai xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 89/2017/HSST ngày 18/9/2017 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Quang P, Sinh năm: 1973, ĐKHKTT và chỗ ở : Thôn 5, xã T, huyện B, thành phố H; Nghề nghiệp: Lao độ ng tự do ; Trình độ văn hóa: 2/10; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không; Con ông: Trần Quang H, Không rõ năm sinh; Con bà: Nguyễn Thị T, Không rõ năm sinh; Vợ: Vũ Thị T, Sinh năm: 1975; Con: có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2003. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/5/2017 đến ngày 28/5/2017, hiện bị cáo đang được tại ngoại ở địa phương. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
NHẬN THẤY
Bị cáo Trần Quang P bị Viện kiểm sát nhân dân huyện B, thành phố H truy tố về hành vi phạm tội như sau: Hồi 16 giờ 10 phút ngày 25/5/2017, Tổ công tá c Công an huyệ n B tiến hành kiể m tra hà nh chí nh đố i vớ i cơ sở tắ m nướ c khoáng nóng do Trần Quang P, sinh năm: 1973 làm chủ (cơ sở không có biển hiệu) thuộc thôn 5, xã T, huyện B, H, phát hiện bắt quả tang 01 cặp nam nữ là: Phùng Minh H, sinh năm 1995, HKTT tại xã T, thị xã S, H) và Tống Thị H, sinh năm 1993, HKTT tại xã T, huyện L, tỉnh H) đang thực hiện hành vi mua bán dâm tại phòng khô thứ 2 từ cổng vào.
Tang vật thu giữ: Số tiền 150.000 đồng thu trên người Phùng Minh H và 01 bao cao su nhãn hiệu EROS đã qua sử dụng thu tại nơi H và H thực hiện hành vi mua bán dâm.
Tại CQĐT Công an huyện B, Trần Quang P đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, cụ thể như sau:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 25/5/2017, Phùng Minh H và Phạm Đức K, sinh năm 1994, HKTT tại phố Q, thị xã S, thành phố H thuê xe taxi từ nhà lên khu vực xã T, huyện B để tắm khoáng nóng và mua dâm. Khi đến nơi, H và K vào một cơ sở tắm khoáng nóng không có biển hiệu thì gặp P. H và K đặt vấn đề với P về việc muốn tắm khoáng nóng và mua dâm thì P đồng ý. Hai bên thỏa thuận giá cả mỗi lần mua dâm là 150.000đ/người/lượt, sau khi thực hiện xong sẽ thanh toán tiền. Thỏa thuận xong, P chỉ dẫn H và K vào phòng tắm trước rồi lấy xe máy đi ra ngoài đường tìm gái bán dâm. Khi đi được một đoạn khoảng 200m thì P gặp Tống Thị H sinh năm 1993 trú tại xã L, tỉnh H đang đi ngoài đường. P hỏi H“có đi khách không?”, H hiể u ý P là đi bán dâm cho khá ch nên đồng ý . P và H thỏa thuận mỗi lần bán dâm, P sẽ trả cho H số tiền 60.000đ. Sau đó, P đưa H về cơ sở tắm khoáng nóng của mình. Lúc này, H và K đã tắm xong đang ngồi uống nước ở bàn. P đưa cho H 01 bao cao su nhãn hiệu EROS và sắp xếp cho H và H vào phòng khô số 2 tính từ lối cổng vào còn K vẫn ngồi ngoài bàn uống nước. Khi H và H đang quan hệ tình dục thì bị lự c lượ ng Công an đến kiể m tra hà nh chí nh và bắ t quả tang.
Về vật chứng: Số tiền 150.000 đồng thu trên người Phùng Minh H; 01 bao cao su nhãn hiệu EROS đã qua sử dụng. Viện kiểm sát nhân dân huyện B đã ra quyết định chuyển vật chứng yêu cầu CQĐT chuyển đến kho vật chứng cơ quan Chi cục thi hành án dân sự huyện B để phục vụ quá trình giải quyết vụ án.Tại CQĐT Trần Quang P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản Cáo trạng số: 85/CT-VKS ngày 18/9/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, thành phố H truy tố bị cáo Trần Quang P về tội “Chứa mại dâm” theo khoản 1, điều 254 BLHS năm 1999.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B vẫn giữ nguyên nội dung như bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1, điều 254, điểm p, khoản 1, điều 46, điều 33 BLHS, xử phạt bị cáo Trần Quang P từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù. Miễn hình phạt tiền bổ sung cho bị cáo. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì dán kín, tại các mép dán ngoài phong bì có 04 dấu đỏ và có chữ ký tên của đối tượng Phùng Minh H và Tống Thị H bên trong phong bì có 01 bao cao su đã qua sử dụng. Tịch thu sung công quỹ số tiền 150.000 đồng thu trên người của Phùng Minh H.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa:
Căn cứ vào kết quả xét hỏi tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến kiểm sát viên, lời khai nhận tội của bị cáo,cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
XÉT THẤY
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Trần Quang P thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản phạm pháp quả tang, lời khai của người làm chứng, người liên quan, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy HĐXX có đủ cơ sở xác định: Vào hồi 16 giờ 10 phút, ngày 25/05/2017 bị cáo Trần Quang P có thỏa thuận về việc mua bán dâm với khách mua dâm là anh Phùng Minh H tại khu tắm khoáng nóng dịch vụ của nhà mình với giá 150.000đ/lượt mua dâm. Trần Quang P chủ động đi tìm gái bán dâm. Khi đi được một đoạn khoảng 200m thì P gặp Tống Thị H sinh năm 1993 trú tại xã L,tỉnh H đang đi ngoài đường. P hỏi H “có đi khách không?”, H hiể u ý P là đi bán dâm cho khách nên đ ồng ý. P và H thỏa thuận mỗi lần bán dâm, P sẽ trả cho H số tiền 60.000đ. Sau đó, P đưa H về cơ sở tắm khoáng nóng của mình. Khi H và H đang quan hệ tình dục thì, tổ công tác công an đồn S và công an xã T, huyện B kiểm tra hành chính tại cơ sở tắm khoáng nóng của P và bắt quả tang Tống Thị H đang bán dâm cho Phùng Minh H tại phòng khô thứ 2 tính từ cổng vào khoáng nóng của P. Tang thu giữ vật gồm: Thu trên người Phùng Minh H số tiền 150.000 đồng; 01 ruột bao cao su đã qua sử dụng và 01 vỏ bao su nhãn hiệu EROS đã xé rách. Như vậy HĐXX có đủ căn cứ chứng minh hành vi của bị cáo Phi thực hiện ngày 25/5/2017 đã phạm tội “Chứa mại dâm” tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1, điều 254 BLHS năm 1999. Do vậy cáo trạng truy tố bị cáo Trần Quang P về tội “ Chứa mại dâm” theo khoản 1, điều 254 BLHS năm 1999 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo Trần Quang P thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến an toàn,trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, cụ thể là địa phương xã T nơi có nhiều dịch vụ tắm nước khoáng nóng, hành vi của bị cáo thực hiện còn xâm phạm đến đạo đức, nếp sống văn minh của xã hội, gây tổn hại đến sức khỏe con người và là nguyên nhân lây truyền các căn bệnh về xã hội, xã hội đòi hỏi phải xử lý nghiêm, áp dụng hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi của bị cáo thực hiện mới có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa chung.
Xét về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Trần Quang P không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Xét về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Trần Quang P đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Do vậy bị cáo được áp dụng điểm p, khoản 1, điều 46 Bộ luật hình sự, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo có cơ hội trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.
Qua phân tích và nhận định trên HĐXX xét thấy bị cáo Trần Quang P đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm p, khoản 1, Điều 46 BLHS. Mặc dù bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ nhưng hành vi của bị cáo thực hiện xã hội đòi hỏi phải xử lý nghiêm minh những tội phạm về tệ nạn xã hội, nhất là tội phạm về ma túy, mại dâm, bị cáo đều đã trưởng thành, đều có năng lực pháp luật, năng lực hành vi đầy đủ, bị cáo buộc phải biết hành vi chứa mại dâm, dẫn dắt người mại dâm nhằm mục đích thu lời bất chính là vi phạm pháp luật, là nguyên nhân lây truyền các bệnh xã hội, đặc biệt là lây truyền căn bệnh thế kỷ HIV trong cộng đồng, xã hội, gây tổn hại đến tính mạng, sức khỏe, nòi giống con người. Do vậy cần phải áp dụng điều 33 BLHS để quyết định một mức hình phạt nghiêm khắc, các ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cho gia đình và xã hội.
Đối với Phùng Minh H có hành vi mua dâm và Tống Thị H có hành vi bán dâm tại cơ sở tắm khoáng nóng không có biển hiệu của Trần Quang P, Công an huyện B đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H và H là có căn cứ đúng pháp luật.
Đối với Phạm Đức K đi cùng Phùng Minh H đến xã T , huyện B để mua dâm, tuy nhiên khi lự c lượ ng Công an kiểm tra hành chính , K không thự c hiệ n hành vi mua bán dâm nên CQĐT không đề cập xử lý mà chỉ nhắc nhở, giáo dục là đúng pháp luật.
Tại khoản 5, Điều 254 BLHS năm 1999 còn quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. HĐXX xét thấy bị cáo Trần Quang P không có công ăn việc làm ổn định, thu nhập chính từ làm ruộng, hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, do vậy HĐXX miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Tịch thu sung công quỹ số tiền 150.000 đồng thu trên người Phùng Minh H.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì dán kín, tại các mép dán ngoài phong bì có 04 dấu đỏ và có chữ ký tên của đối tượng Phùng Minh H và Tống Thị H, bên trong phong bì có 01 bao cao su đã qua sử dụng.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1/ Xử: Tuyên bố bị cáo Trần Quang P, phạm tội “Chứa mại dâm”.
2/ Áp dụng: Khoản 1, Điều 254; điểm p, khoản 1, điều 46, điều 33 BLHS năm 1999.
Xử phạt: Bị cáo Trần Quang P 12(Mƣời hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày bắt để thi hành án, bị cáo P được trừ 04 (Bốn) ngày tạm giữ, từ ngày 25/5/2017 đến ngày 28/5/2017.
4/ Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 41 BLHS, Điều 76 BLTTHS
Tịch thu sung công quỹ số tiền 150.000 đồng thu trên người Phùng Minh H. Công an huyện B đã chuyển vào tài khoản số: 39490 ngày 29/09/2017 tại Kho bạc Nhà nước huyện B.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì dán kín, tại các mép dán ngoài phong bì có 04 dấu đỏ và có chữ ký tên của đối tượng Phùng Minh H và Tống Thị H, bên trong phong bì có 01 bao cao su đã qua sử dụng.
5/Án phí: Áp dụng Điều 99 BLTTHS và điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Quang P phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6/ Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều Điều 231 BLTTHS.
Bị cáoTrần Quang P có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. N¬i nhËn:
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND Tp. H
- VKSND B
| - C«ng an B - T.H.A B Người tham gia tố tụng CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | Thẩm phán-Chủ Toạ phiên toà Nguyễn Đức Thƣởng THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |