vanban.org

Bản án 859/2018/HC-PT — Hành chính

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 26/09/2018 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/09/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

quản lý sử dụng nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;

xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Trần Thị Thanh T-Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường 7"
  • Tòa quyết gì? quản lý sử dụng nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;
  • Căn cứ chính? Điều 87 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Luật Thi hành án dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 859/2018/HC-PT
Ngày: 26-9-2018
V/v Khiếu kiện quyết định hành

chính về quản lý đất đai

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"phúc"thẩm"gồm"có:

Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Bà Đặng Mạnh Đoan Trang

Các"Thẩm"phán"

: Ông Trần Quang Phúc

: Ông Vũ Bảo Nguyên"

Thư"ký"Tòa"án"ghi"biên"bản"phiên"tòa: Bà Trần Thị Lan Hương.

Đại"diện"Viện"kiểm"sát"nhân"dân"Thành"phố"Hồ"Chí"Minh"tham"gia"phiên"

toad: Bà Phùng Thị Lan - Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 9 và ngày 26 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án

nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính

thụ lý số 94/2017/TLPT-HC ngày 13 tháng 12 năm 2017 về việc “Khiếu kiện

quyết định hành chính về quản lý đất đai”.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 04/2017/HC-ST ngày 29 tháng 9 năm

2017 của Tòa án nhân dân Quận B bị kháng cáo;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3258/2018/QĐXXPT-HC ngày 25

tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:

Người"khởi"kiện: Bà Trần Thị Thanh T

Địa chỉ: 6C Tú Xương, Phường 7, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người"bảo"vệ"quyền"và"lợi"ích"hợp"pháp"của"người"khởi"kiện:"Ông Trần

Hải Đ (Luật sư) và ông Nguyễn Minh T (Luật sư) -Văn phòng Luật sư Trần

Hải Đ thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh."

Địa chỉ: 259A Hai Bà Trưng, Phường 6, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người"bị"kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường 7, Quận B Thành

phố Hồ Chí Minh - Ông Trần Hải N

Địa chỉ: 234 Điện Biên Phủ, Phường 7, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người"bảo"vệ"quyền"và"lợi"ích"hợp"pháp"của"người"bị"kiện: Ông Phan

Minh S - Luật sư Văn phòng Luật sư N thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí

Minh.

Địa chỉ: 30/2A Ngô Thời Nhiệm, Phường 7, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người"có"quyền"lợi"và"nghĩa"vụ"liên"quan: Ông Nguyễn Văn C

Địa chỉ: 6C Tú Xương, Phường 7, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người"đại"diện"hợp"pháp"theo"ủy"quyền"của"người"có"quyền"lợi"và"nghĩa"

vụ"liên"quan: Ông Nguyễn Minh T.

Địa chỉ: 259A Hai Bà Trưng, Phường 6, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Do có kháng cáo của người khởi kiện là bà Trần Thị Thanh T.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bà Trần Thị Thanh T có mặt, ông Trần Hải Đ có

mặt, ông Nguyễn Minh T có mặt, ông Trần Hải N có mặt, ông Phan Minh S có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Căn"cứ"theo"đơn"khởi"kiện"ngày"13/10/2016"và"ý"kiến"trong"quá"trình"

giải"quyết"vụ"án,"người"khởi"kiện"bà"Trần"Thị"Thanh"T"có"ông"Nguyễn"Minh" T"đại"diện"theo"ủy"quyền"trình"bày:

Nguồn gốc khu nhà 6C Tú Xương, Phường 7, Quận B, Thành phố Hồ

Chí Minh (sau đây được gọi tắt là khu nhà 6C) là nhà biệt thự, thuộc quyền sử dụng của Cục quản trị II (sau này là Văn phòng Chính phủ). Năm 1986, Cục Quản trị II cấp căn nhà 11m2 có gác lửng 4m2 thuộc khu nhà 6C cho bà T và chồng là ông Cường. Ngoài ra, Cục quản trị II cũng cấp nhà tại khu nhà 6C cho 07 hộ gia đình cán bộ khác và còn lại hơn 1.600 m2 là đất trống được sử dụng làm sân chung cho cả 08 hộ gia đình.

Đến năm 1988, vợ chồng bà T đã sửa chữa, cơi nới phần nhà cũ và xây

thêm trên phần sân chung để ở (theo Bản vẽ hiện trạng ngày 26/7/1993, có xác nhận của Sở Nhà đất Thành phố Hồ Chí Minh, Giám đốc Quản lý kinh doanh nhà thành phố). Ngoài ra, bà T đã dựng một căn nhà tạm 38,74 m2 (khung sắt, vách tre, che bạt nylon) trên sân trống gần mặt tiền đường Tú Xương làm quán giải khát, kiếm thêm thu nhập cho gia đình.

Năm 2002, 08 hộ dân được mua nhà theo Nghị định 61/CP của Chính

phủ. Do tính trung thực và không hiểu rõ về pháp luật nhà đất nên vợ chồng bà T không đề nghị Công ty Quản lý kinh doanh nhà Thành phố giải quyết cho mua hóa giá nhà theo hiện trạng sử dụng nên Công ty Quản lý kinh doanh nhà Thành phố chỉ duyệt bán phần diện tích nhà đất được cấp năm 1986, hoàn toàn không đề cập đến việc xử lý phần cơi nới.

Ngày 27/12/2002, gia đình bà T được Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ

Chí Minh cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 22820/2002 với diện tích nhà ở là 18,03 m2, diện tích đất sử dụng riêng là 12,29

m2 và sử dụng chung 1.647,04 m2.

Ngày 04/5/2009, được sự ký duyệt cho phép xây dựng của Chủ tịch Ủy

ban nhân dân Phường 7, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh nên vợ chồng bà T đã

tiến hành cải tạo sửa chữa, nâng cấp căn nhà diện tích là 39 m2, có gác suốt và

chiều cao công trình là 6,8m với chi phí hơn 01 tỷ đồng.

Sau đó, một số hộ trong khu nhà 6C tranh giành quyền lợi cho thuê diện

tích sân chung. Vì vậy, Ủy ban nhân dân Phường 7, Quận B, Thành phố Hồ Chí

Minh đã kiểm tra việc sử dụng nhà và đất của 08 hộ và lập Biên bản vi phạm

hành chính số 07/BB-VPHC ngày 12/9/2014 xác định chủ công trình là ông

Nguyễn Văn C. Ngày 24/9/2014, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường 7, Quận B,

Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định cưỡng chế phá dỡ công trình

vi phạm trật tự xây dựng số 150/QĐ-UBND nhưng không thực hiện được do gia

đình bà T có khiếu nại.

Đến ngày 10/9/2015, Ủy ban nhân dân Phường 7, Quận B, Thành phố

Hồ Chí Minh lập Biên bản vi phạm hành chính số 04/BB-VPHC, xác định chủ

công trình là bà Trần Thị Thanh T. Căn cứ biên bản này, Chủ tịch Ủy ban nhân

dân Phường 7, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh là ông Trần Hải N đã ký Quyết

định cưỡng chế (lần hai) số 200/QĐ-UBND ngày 22/10/2015.

Ngày 08/7/2016, ông Trần Hải N ký Văn bản số 39/TB-UBND thông

báo việc Ủy ban nhân dân Phường 7 Quận B ấn định cưỡng chế trong thời gian

từ ngày 21/7/2016 đến ngày 30/7/2016.

Do nhận thấy việc ban hành quyết định cưỡng chế của Chủ tịch Phường

7, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh là sai nên bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án

xem xét, giải quyết như sau:

1/ Hủy Quyết định số 200/QĐ-UBND ngày 22/10/2015 của Chủ tịch Ủy

ban nhân dân Phường 7, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

2/ Buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường 7, Quận B, Thành phố Hồ

Chí Minh có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tài sản là 1.170.041.000 (Một"tỷ"

một"trăm"bảy"mươi"triệu"không"trăm"bốn"mươi"mốt"nghìn) đồng.

Tại"các"văn"bản"trình"bày"và"ý"kiến"trong"quá"trình"giải"quyết"vụ"án,"

người"bị"kiện"Chủ"tịch"Ủy"ban"nhân"dân"Phường"7,"Quận"B,"Thành"phố"Hồ"

Chí"Minh"có"ông"Huỳnh"Đỗ"Tiến"đại"diện"theo"ủy"quyền""trình"bày:"

Căn cứ vào đơn khiếu nại của các hộ cùng cư trú tại khu nhà 6C và Kết

luận số 460/KL-TTTP-P1 của Thanh tra Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí

Minh và Công văn số 5054/UBND-PCNC ngày 23/9/2013 chỉ đạo và xử lý vi phạm xây dựng không phép tại khu nhà 6C.

Ngày 12/9/2014, Ủy ban nhân dân Phường 7, Quận B, Thành phố Hồ

Chí Minh đã lập biên bản vi phạm hành chính và ban hành Quyết định số 150/QĐ-UBND ngày 24/9/2014 về việc cưỡng chế phá dỡ công trình vi phạm trật tự xây dựng đô thị đối với ông Nguyễn Văn C (chồng bà T).

Khi thực hiện kế hoạch cưỡng chế tại khu nhà 6C, Ủy ban nhân dân

Phường 7, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện có sự sai sót về diện tích nhà vi phạm do bà T trực tiếp sử dụng tiếp giáp với hộ ông Nguyễn Duy Lâm có diện tích vi phạm trệt, lầu 1, lầu 2 là 27 m2. Do vậy, Ủy ban nhân dân Phường 7, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh đã lập Biên bản vi phạm hành chính số 04 ngày 10/9/2015 về vi phạm hành chính và yêu cầu tự tháo dỡ công trình xây dựng, bộ phận công trình vi phạm và ban hành Quyết định số 200/QĐ-UBND về việc cưỡng chế phá dỡ công trình vi phạm trật tự xây dựng đô thị đối với bà T, để thay thế và hủy bỏ Quyết định số 150/QĐ-UBND ngày 24/9/2014.

Theo Thông tư số 02/2014/TT-BXD ngày 12/12/2014 của Bộ xây dựng

quy định thì trường hợp vi phạm hành chính về xây dựng đã hết thời hiệu xử lý vi phạm hành chính thì cơ quan có thẩm quyền không ban hành quyết định xử phạt hành chính mà ban hành quyết định cưỡng chế phá dỡ.

Vì vậy yêu cầu của bà T là không có cơ sở nên đề nghị Tòa án không

chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T.

Tại"các"văn"bản"trình"bày"và"ý"kiến"trong"quá"trình"giải"quyết"vụ"án","

người"có"quyền"lợi,"nghĩa"vụ"liên"quan"ông"Nguyễn"Văn"C" có"ông"Nguyễn" Minh"T"đại"diện"theo"ủy"quyền"trình"bày"trình"bày:""

Thống nhất với ý kiến và yêu cầu của bà T.

Tại phiên tòa sơ thẩm bà T, ông Cường yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân

dân Phường 7, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh bồi thường thiệt hại về tài sản là 515.674.000 (Năm"trăm"mười"lăm"triệu"sáu"trăm"bảy"mươi"bốn"nghìn) đồng và giữ nguyên các yêu cầu khác.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 04/2017/HC-ST ngày 29/9/2017 của

Tòa án nhân dân Quận B đã tuyên xử:

Bác yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thanh T về việc yêu cầu hủy

Quyết định số 200/QĐ-UBND ngày 22/10/2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường 7, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh và yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường 7, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh bồi thường thiệt hại về tài sản là 515.674.000 (Năm"trăm"mười"lăm"triệu"sáu"trăm"bảy"mươi"bốn"nghìn)"đồng.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các

đương sự theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bà Trần Thị Thanh T người khởi kiện có đơn

kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận B.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng

cáo: Đề nghị hủy Quyết định số 200/QĐ-UBND ngày 22/10/2015 của Chủ tịch

Ủy ban nhân dân Phường 7, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Buộc Chủ tịch

Ủy ban nhân dân Phường 7, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh có trách nhiệm

bồi thường thiệt hại về tài sản là 515.674.000 (Năm" trăm" mười" lăm"triệu"sáu"

trăm"bảy"mươi"bốn"nghìn) đồng.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện trình bày:

Đề nghị Tòa án hủy Quyết định số 200/QĐ-UBND ngày 22/10/2015 của

Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường 7, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh vì:

- Quyết định số 150/QĐ-UBND ngày 24/9/2014 xác định người bị xử

phạt là ông Cường nhưng Quyết định số 200/QĐ-UBND ngày 22/10/2015 xác

định người bị xử phạt là bà T vi phạm nguyên tắc cá thể hóa trong xử lý vi phạm

hành chính.

- Biên bản vi phạm hành chính số 04/BB-VPHC ngày 10/9/2015, Quyết

định số 200/QĐ-UBND ngày 22/10/2015 có nội dung hủy bỏ và thay thế cho

Biên bản vi phạm hành chính số 07/BB-VPHC ngày 12/9/2014, Quyết định số

150/QĐ-UBND ngày 24/9/2014 là sai.

- Thời hiệu xử lý vi phạm hành chính đã hết nhưng Chủ tịch Ủy ban nhân

dân Phường 7, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn ban hành quyết định cưỡng

chế phá dỡ công trình vi phạm trật tự xây dựng đô thị là sai.

- Biên bản vi phạm hành chính Ủy ban nhân dân Phường 7 Quận B lập

không đúng tại nơi xảy ra vi phạm mà lập tại Ủy ban nhân dân phường.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn C có ông

Nguyễn Minh T là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Đề nghị hủy Quyết

định số 200/QĐ-UBND ngày 22/10/2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường

7, Quận B.

Người bị kiện ông Trần Hải N trình bày: Đề nghị giữ nguyên Bản án sơ

thẩm số 04/2017/HC-ST ngày 29/9/2017 của Tòa án nhân dân Quận B.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện trình bày: Đề nghị giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 04/2017/HC-ST ngày 29/9/2017 của Tòa án nhân dân Quận B.

* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng:

Về thủ tục: Thẩm phán đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định

của pháp luật từ khi thụ lý và tại phiên tòa hôm nay. Hội đồng xét xử tiến hành đưa vụ án ra xét xử đúng quy định của pháp luật về thời gian, địa điểm xét xử, thành phần Hội đồng xét xử và các thủ tục tố tụng tại phiên tòa. Về việc chấp hành pháp luật của Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Luật Tố tụng hành chính. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

Về nội dung: Không có cơ sở hủy Quyết định số 200/QĐ-UBND ngày

22/10/2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường 7, Quận B.

Trên đây là ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ

Chí Minh tham gia phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về"hình"thức: Đơn kháng cáo của bà Trần Thị Thanh T gửi đến tòa trong

thời hạn luật định nên hợp lệ.

[1] Về thẩm quyền và trình tự, thủ tục ban hành quyết định hành chính:

Căn cứ Khoản 1 Điều 87 Luật xử lý vi phạm hành chính: Chủ tịch Ủy ban

nhân dân các cấp có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế nơi xảy ra hành vi vi phạm hành chính là khu nhà 6C Tú Xương, Phường 7, Quận B. Do đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường 7, Quận B ban hành quyết định cưỡng chế khi phát hiện vi phạm là đúng theo quy định.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của bà T. Hội đồng xét xử xét thấy:

Về nguồn gốc: Khu nhà số 6C có nguồn gốc thuộc sở hữu Nhà nước do

công ty quản lý nhà Thành phố Hồ Chí Minh quản lý theo phân cấp với diện tích khuôn viên đất là 2.050,4m2. Trong đó diện tích sân chung là 1.625,5m2, tổng diện tích xây dựng là 424,9m2. Từ năm 2002, các hộ tại khu nhà 6C được mua hóa giá nhà theo Nghị định số 61/CP của Chính phủ.

Ngày 27/12/2002, gia đình bà T được Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ

Chí Minh cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số

22820/2002 với diện tích nhà ở là 18,03 m2, diện tích đất sử dụng riêng là 12,29

m2 và sử dụng chung 1.647,04 m2.

Do có đơn khiếu nại của các hộ cùng cư trú tại khu nhà 6C và Kết luận

số 460/KL-TTTP-P1 của Thanh tra Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh,

Công văn số 5054/UBND-PCNC ngày 23/9/2013 chỉ đạo và xử lý vi phạm xây

dựng không phép tại khu nhà 6C.

Ngày 12/9/2014, Ủy ban nhân dân Phường 7, Quận B, Thành phố Hồ

Chí Minh đã lập biên bản vi phạm hành chính và ban hành Quyết định số

150/QĐ-UBND ngày 24/9/2014 về việc cưỡng chế phá dỡ công trình vi phạm

trật tự xây dựng đô thị đối với ông Nguyễn Văn C (chồng bà T).

Do có phát hiện sai sót về diện tích, Ủy ban nhân dân Phường 7, Quận B

đã lập Biên bản vi phạm hành chính số 04 ngày 10/9/2015 về vi phạm hành

chính và yêu cầu tự tháo dỡ công trình xây dựng, bộ phận công trình vi phạm.

Ngày 22/10/2015, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường 7, Quận B ban hành Quyết

định số 200/QĐ-UBND về việc cưỡng chế phá dỡ công trình vi phạm trật tự xây

dựng đô thị đối với bà T có nội dung: “Cưỡng"chế"phá"dỡ"đối"với"công"trình"vi"

phạm"trật"tự"xây"dựng"tại"số"6C"Tú"Xương,"phường"7,"Quận"B"do"bà"Trần"Thị"

Thanh"T"là"người"hiện"đang"quản"lý"và"sử"dụng.

Lý"do:"Xây"dựng"nhà"trên"phần"diện"tích"sân"chung"tại"khu"biệt"thự"6C"

Tú"Xương,"Phường"7,"Quận"B"trái"quy"định"pháp"luật”.""

Xét thấy, hành vi xây dựng nhà trên phần diện tích sân chung là hành vi

nghiêm cấm theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 34/NĐ-CP ngày 22/4/2013

của Chính phủ và điểm a Khoản 5 Điều 55 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP ngày

10/10/2013 của Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường 7, Quận B lập

biên bản vi phạm hành chính và ban hành quyết định cưỡng chế là đúng quy định.

Do thời hiệu xử lý vi phạm hành chính đã hết. Do đó, Chủ tịch Ủy ban

nhân dân Phường 7, Quận B ban hành Quyết định số 200/QĐ-UBND ngày

22/5/2015 về việc cưỡng chế phá dỡ công trình vi phạm trật tự xây dựng đô thị

của bà T là đúng theo quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 2 Thông tư số

02/2014/TT-BXD ngày 12/02/2014 của Bộ Xây dựng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện và người bảo vệ quyền lợi ích

hợp pháp cho người khởi kiện trình bày: Quyết định số 150/QĐ-UBND ngày

24/9/2014 xác định người bị xử phạt là ông Cường nhưng Quyết định số 200/QĐ-UBND ngày 22/10/2015 xác định người bị xử phạt là bà T là vi phạm nguyên tắc cá thể hóa trong xử lý vi phạm hành chính. Biên bản vi phạm hành chính số 04/BB-VPHC ngày 10/9/2015, Quyết định số 200/QĐ-UBND ngày 22/10/2015 có nội dung hủy bỏ và thay thế cho Biên bản vi phạm hành chính số 07/BB-VPHC ngày 12/9/2014, Quyết định số 150/QĐ-UBND ngày 24/9/2014 là sai. Thời hiệu xử lý vi phạm hành chính đã hết nhưng Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường 7, Quận B vẫn ban hành quyết định cưỡng chế phá dỡ công trình vi phạm trật tự xây dựng đô thị là sai. Biên bản Ủy ban nhân dân Phường 7 Quận B lập không đúng tại nơi xảy ra vi phạm mà lập tại Ủy ban nhân dân phường.

Xét do thời hiệu xử lý vi phạm hành chính đã hết nên Chủ tịch Ủy ban

nhân dân Phường 7, Quận B đã ban hành Quyết định số 200/QĐ-UBND ngày 22/10/2015 về việc cưỡng chế phá dỡ công trình vi phạm trật tự xây dựng đô thị của bà T là đúng theo quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 2 Thông tư số 02/2014/TT-BXD ngày 12/2/2014 của Bộ xây dựng. Do đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường 7 Quận B ban hành Quyết định số 200/QĐ-UBND là đúng theo quy định. Về Biên bản vi phạm hành chính số 04/BB-VPHC ngày 10/9/2015, Quyết định số 200/QĐ-UBND ngày 22/10/2015 có nội dung hủy bỏ và thay thế cho Biên bản hành chính số 07/BB-VPHC ngày 12/9/2014, Quyết định số 150/QĐ-UBND ngày 24/9/2014 là sai về thời hạn ban hành, sai về diện tích xây dựng và trình tự. Căn cứ vào Khoản 3 Điều 18 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định: “3."Trong"phạm"vi"nhiệm"vụ"quyền"hạn"của"mình,"Bộ" trưởng,"thủ"trưởng"cơ"quan"ngang"bộ,"chủ"tịch"ủy"ban"nhân"dân"các"cấp,"thủ" trưởng"cơ"quan,"đơn"vị"có"thẩm"quyền"xử"lý"vi"phạm"hành"chính"có"trách"nhiệm" phát"hiện"quyết"định"về"xử"lý"vi"phạm"hành"chính"do"mình"hoặc"cấp"dưới"ban" hành"có"sai"sót"và"kịp"thời"sửa"đổi,"bổ"sung"hoặc"hủy"bỏ,"ban"hành"quyết"định" mới"theo"thẩm"quyền.” Do vậy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường 7 Quận B được quyền hủy bỏ và ban hành quyết định mới theo thẩm quyền là đúng theo quy định. Về biên bản lập không đúng tại nơi xảy ra vi phạm: Căn cứ vào Biên bản lập số 04/BB-VPHC ngày 10/9/2015 thì biên bản lập tại nhà số 6C Tú Xương, Phường 7 Quận B và thành phần lập biên bản là đúng theo quy định. bà T không khiếu nại và giải trình vấn đề này cũng như không đưa ra chứng cứ chứng minh về việc lập biên bản tại Ủy ban nhân dân Phường 7, Quận B. Do đó, không có căn cứ để hủy Quyết định số 200/QĐ-UBND ngày 22/5/2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường 7, Quận B.

Về yêu cầu được bồi thường số tiền: 515.674.000 (Năm"trăm"mười"lăm"

triệu" sáu" trăm" bảy" mươi" bốn" nghìn) đồng do yêu cầu kháng cáo của bà T là không có căn cứ nên không được chấp nhận.

Xét ý kiến của người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện và ý kiến

của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa

phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí hành chính phúc thẩm: Do yêu cầu khởi kiện không được chấp

nhận nên bà T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Về yêu cầu bồi thường thiệt hại số tiền 515.674.000 (Năm"trăm"mười"lăm"

triệu"sáu"trăm"bảy"mươi"bốn"nghìn) đồng cấp sơ thẩm chưa cho đương sự đóng

tiền tạm ứng dân sự phúc thẩm là có thiếu sót cần rút kinh nghiệm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính năm 2015;

Căn cứ Điều 52, Điều 61, Điều 66, Điều 87 Luật xử lý vi phạm hành chính;

Căn cứ Nghị định số 34/2013NĐ-CP ngày 22/4/2013 của Chính phủ về

quản lý sử dụng nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;

Căn cứ Nghị định 121/2013/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2013 quy định

xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản;

khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ

thuật; quản lý phát triển nhà và công sở;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy

ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và

sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008,

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện bà Trần Thị

Thanh T, giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 04/2017/HC-ST ngày

29/9/2017 của Tòa án nhân dân Quận B.

Bác yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thanh T yêu cầu: Hủy Quyết

định số 200/QĐ-UBND ngày 22/10/2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường

7, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường 7,

Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tài sản

là 515.674.000 (Năm"trăm"mười"lăm"triệu"sáu"trăm"bảy"mươi"bốn"nghìn) đồng.

2. Về án phí:

Án phí hành chính sơ thẩm: 200.000 (Hai"trăm"nghìn) đồng bà Trần Thị Thanh T phải nộp, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm mà bà T đã nộp theo biên lai số AC/2014/0002979 ngày 28/10/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận B; bà T đã nộp đủ án phí hành chính sơ thẩm.

Án phí dân sự sơ thẩm: 24.626.960 (Hai" mươi" bốn" triệu" sáu" trăm" hai"

mươi"sáu"nghìn"chín"trăm"sáu"mươi) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 12.313.480 (Mười"ba"triệu"ba"trăm"mười"ba"nghìn"bốn"trăm"tám" mươi) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0019148 ngày 21/7/2017 của Chi cục thi hành án dân sự Quận B. bà T còn phải nộp 12.313.480 (Mười"ba"triệu"ba"trăm"mười"ba"nghìn"bốn"trăm"tám"mươi) đồng.

Án phí hành chính phúc thẩm: Bà Trần Thị Thanh T phải chịu án phí hành

chính phúc thẩm 300.000 (Ba"trăm"nghìn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm đã nộp là 300.000 (Ba"trăm"nghìn)"đồng theo Biên lai số AA/2017/0019426 ngày 04/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự Quận B; bà T đã nộp đủ án phí hành chính phúc thẩm.

Án phí dân sự phúc thẩm: bà T phải chịu 300.000 (Ba"trăm"nghìn)"đồng.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án. Nơi"nhận:""

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

- TAND Tối cao;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND Cấp cao tại TPHCM;

- VKSND Cấp cao tại TPHCM;

"

- VKSND TPHCM;

- TAND Quận B;

"

- Chi cục THADS Quận B;

"

- Các đương sự;

"

- Lưu VP, hồ sơ vụ án.

"

"

Đặng Mạnh Đoan Trang

Cỡ chữ